LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

SỬ DỤNG HYALURONIC ACID, HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU (PRP) VÀ CHỈ TIEU POLYLACTIC TRONG ĐIỀU TRỊ SẸO TRỨNG CÁ (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: SỬ DỤNG HYALURONIC ACID, HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU (PRP) VÀ CHỈ TIEU POLYLACTIC TRONG ĐIỀU TRỊ SẸO TRỨNG CÁ (PHẦN 2)

Hyaluronic acid

Giới thiệu

Acid hyaluronic (HA) là một glycosaminoglycan bao gồm D-glucu- ronic acid và N-acetyl D-glucosamine liên kết xen kẽ nhau. Chúng được liên kết chéo để tạo thành chuỗi dài, không phân nhánh từ đó hình thành một polymer anion sinh học. Nhờ những thành phần kết hợp này, HA nội sinh đã góp phần tạo sức căng và độ đàn hồi cho da.

Khi được tiêm vào da mặt, HA có thể làm đầy thể tích ngay và tồn tại trong thời gian ngắn. Ngoài ra HA còn tạo tác dụng lâu dài bằng cách kích thích sự tổng hợp collagen từ các nguyên bào sợi [1,2]. HA được sản xuất ở nhiều dạng khác nhau, chúng khác nhau về độ nhớt, về công thức giúp tận dụng tối đa lợi ích của HA và phạm vi ứng dụng của nó. Đặc tính nhớt đàn hồi của HA được tạo ra nhờ đặc tính của chuỗi phân tử polymer, liên kết chéo, nồng độ và kích thước hạt.

HA độ nhớt trung bình là lựa chọn tối ưu cho những đường nhỏ và nếp nhăn vừa phải, như là nếp cau mày và rãnh mũi má, HA được tiêm vào lớp bì giữa đến bì sâu. Công thức HA mịn đã được sử dụng để cải thiện các nếp nhăn nhỏ trên mặt, như là nếp nhăn quanh miệng và nếp nhăn quanh mắt, trong các trường hợp này HA sẽ được tiêm vào lớp bì nông [3,4].

Các công thức chuyên biệt đã được chế tạo để tiêm vào môi, trong khi các công thức khác được chỉ định cho việc khôi phục lại các thể tích bị mất đi do lão hóa tự nhiên. Từ việc đưa ra các thành phần, vị trí tiêm nông, và kĩ thuật dẫn truyền liều thấp, thì gel HA độ nhớt thấp sẽ là sản phẩm được chỉ định tuyệt vời trong điều trị giúp giảm sẹo lõm do mụn trứng cá.

Chức năng

Chức năng tự nhiên của HA là lấp đầy khoang kẽ, với đặc tính ưa nước cao của nó, do đó giúp tránh sự sụp đổ của các sợi lưới, thúc đẩy hoạt động của tế bào trung mô và tế bào miễn dịch. Liên kết chéo giúp tạo thành dạng gel không tan trong nước có tính ổn định phân tử.
Nó cũng giúp điều hòa sự tăng sinh và thay thế của các tế bào ke- ratinocyte nhờ hai thụ thể HA chính: CD44 và RHAMM (thụ thể vận động qua trung gian HA); hơn nữa, nó làm bất hoạt các gốc tự do và các gốc tự do oxy hóa (ROS) được tạo thành bởi tia cực tím. [6]
Vai trò sinh lý của loại polyme này có thể được phục hồi nhân tạo bằng cách tiêm các chuỗi acid liên kết chéo (HA) vào các lớp bì và hạ bì khác nhau, nhờ vậy có thể mang lại một làn da mịn màng và săn chắc, với thời gian bán hủy 4-6 tháng tương ứng với mức độ polyme hóa thông qua sự thoái biến gan.
Chất làm đầy HA hoạt động bằng cách tăng thể tích trực tiếp ở lớp bì hoặc lớp hạ bì, thể tích này có thể được tăng thêm nhờ khả năng hấp dẫn nước trong mô của HA. Hơn thế nữa, acid hyaluronic tự nhiên còn thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và tổng hợp chất nền ngoại bào, điều chỉnh đường kính các sợi collagen.

Chỉ định

  • Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar, sẹo ice pick, và sẹo rolling
  • Sẹo lõm trứng cá phân bố khoảng 30% diện tích khuôn mặt

Phương pháp đưa HA vào da

Gel HA độ nhớt thấp (được sản xuất sẵn với 12 hoặc 20mg/mL) được tiêm bằng xi lanh định liều và thể tích mỗi điểm tiêm là 10 µL. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, để cải thiện sẹo trứng cá có thể lựa chọn tiêm dưới da bằng kĩ thuật tiêm đường thẳng ngắn, vừa tiêm vừa rút kim lui (kim 30G). Sau tiêm sẽ tạo ra một chuỗi các điểm tiêm nhỏ vào lớp bì giữa hoặc bì sâu.
  • 20mg/mL HA dùng để điều trị sẹo boxcar và sẹo ice pick
  • 12mg/mL HA dùng để điều trị sẹo rolling
Những điểm tiêm nhỏ này sẽ tập trung vào các sẹo. Trong quá trình làm thủ thuật, một số bệnh nhân có thể cảm thấy không thỏa mái. Mỗi lần điều trị thường kéo dài khoảng 15-20 phút. Có thể lặp lại điều trị mỗi 20 ngày (hình 9.1).

HÌNH 9.1 (a, b) Điều trị bằng HA độ nhớt thấp

Sau điều trị

HA độ nhớt thấp là lựa chọn điều trị nhằm cải thiện chất lượng da dần dần. Một số tác dụng của nó sẽ được thấy ngay sau lần điều trị duy nhất, tuy nhiên kết quả tốt nhất chỉ có thể thấy được sau tối thiểu 3 lần điều trị, mỗi lần cách nhau 3-4 tuần (hình 9.2). Sau điều trị, da có thể phù và bầm tím. Những tác dụng phụ này sẽ biến mất trong vài ngày.

HÌNH 9.2 (a) trước và (b) ngay sau điều trị bằng filler HA.

Ưu điểm

HA đã trở thành chất làm đầy được lựa chọn hàng đầu do hội tụ được các đặc tính như ít gây dị ứng, tính tương hợp sinh học cao (đã được chứng minh khi được sử dụng để tiêm ở mắt và tiêm trong khớp). HA khi tiêm sẽ trở thành một thành phần tự nhiên của mô mềm và không có phản ứng dị ứng nặng nào được báo cáo [7]. Loại filler này có thể sử dụng trên tất cả các phân loại da ánh sáng, và có thể thực hiện mỗi mùa trong năm.

Nhược điểm

Tiêm HA độ nhớt thấp không hiệu quả đối với sẹo lõm sâu như sẹo ice pick.

Hiệu quả lâm sàng

Dựa trên đánh giá của bệnh nhân cho thấy có sự cải thiện rõ về cấu trúc da và hình ảnh lâm sàng trên toàn bộ sẹo về cả số lượng và độ rộng. Đánh giá số lượng sẹo cho thấy có sự cải thiện đáng kể trên cả hai thang điểm Goodman và Baron và cả thang điểm Global Aesthetic Improvement Scale (Hình 9.3 và 9.4).

Hơn nữa, hiệu quả của HA cũng đã được chứng minh bằng kính hiển vi đồng tiêu (confocal microscopy). Sau điều trị, da mặt căng hơn và có thể quan sát thấy có sự cải thiện trong phân bố và tổ chức của các sợi collagen, ngoài ra có sự tăng mật độ và kích thước nang lông [8].

Biến chứng

Hầu hết các tác dụng phụ của tiêm trong da thường nhẹ và thoáng qua như đau, sưng, phù, đỏ da và bầm tại vị trí tiêm. Các tác dụng phụ liên quan đến kĩ thuật tiêm như bề mặt da không đều và xuất hiện các hạt dưới da kéo dài do tiêm filler nông vào vùng da hoại tử do tắc mạch. U hạt gây ra bởi tiêm HA cũng đã được báo cáo.
Khi tiêm HA quá nông vào lớp bì của những bệnh nhân có phân loại Fitzpatrick 1 hoặc 2, thì có thể xuất hiện màu xanh lợt do hiệu ứng Tyn- dall. Tất cả các biến chứng này rất hiếm khi xảy ra.
Hiệu ứng Tyndall: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%B- B%87u_%E1%BB%A9ng_Tyndall


HÌNH 9.3 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA

HÌNH 9.4 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA

Sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị sẹo trứng cá

Giới thiệu

Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) là phần huyết tương tự thân cô đặc chứa tiểu cầu và đầy đủ các yếu tố tăng trưởng, chemokines, và các cytokines. Liệu pháp PRP là một liệu pháp đã có từ lâu và được sử dụng rộng rãi trong các chuyên khoa da liễu, khớp và răng hàm mặt. Bệnh nhân thường dung nạp tốt với phương pháp này. Biến chứng khi làm PRP ít được báo cáo và các thử nghiệm lâm sàng có tổ chức có thể chứng minh cho đều này.

Lịch sử

PRP được phát triển vào thập niên 1970s và lần đầu tiên được đẩy mạnh như là thành phần truyền máu tự thân sau một cuộc phẫu thuật tim hở để tránh việc truyền quá mức các sản phẩm máu tự thân bởi M. Ferrari vào năm 1987 [9].

Năm 1990, chất dính sợi fribrin tự thân (keo dán fibrin) được tạo ra từ quá trình polymer hóa fibrinogen với thrombin hoặc calcium chloride đã được sử dụng như là chất cầm máu dạng bôi, trong khi đó quá trình tạo ra sản phẩm PRP tự thân từ một lượng máu nhỏ đã được mô tả vào năm 1999 [10].

Khi mới bắt đầu, PRP được sử dụng trong nha khoa và phẫu thuật răng hàm mặt. Ngày nay PRP có nhiều ứng dụng khác nhau từ các chuyên khoa y học thể thao cho đến thẩm mỹ, phẫu thuật chỉnh hình và chuyên khoa mắt [11,12]. Những nghiên cứu về hiệu quả của PRP được công bố ngày càng nhiều trong những thập niên trở lại đây. Gần đây PRP đã được sử dụng cho rất nhiều chỉ định trong chuyên khoa da liễu như làm lành vết thương, cấy mỡ, rụng tóc, chỉnh sửa sẹo, và làm đầy thể tích da [13].

Sinh lí bệnh

PRP chứa tiểu cầu cô đặc tự thân trong một thể tích nhỏ huyết tương. Các tế bào tiểu cầu sản xuất rất nhiều yếu tố tăng trưởng khác nhau có khả năng kích thích sự tăng sinh của các tế bào gốc và sự nhân đôi của các tế bào trung mô, nguyên bào sợi, nguyên bào xương và các tế bào nội mô.

PRP chứa một số yếu tố tăng trưởng khác nhau: yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu (PDFG), yếu tố tăng trưởng chuyển dạng (TGF)-α, yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (IGF-1),
yếu tố tăng trưởng thượng bì (EGF), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản (bFGF), TGF-β1, và yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF) (hình 9.5). Sự bài tiết của các yếu tố này bắt đầu trong 10 phút sau khi hình thành cục máu đông và trên 95% các yếu tố tăng trưởng tiền tổng hợp được bài tiết trong vòng 1 giờ. Khi thêm thrombin và calcium chloride sẽ giúp hoạt hóa tiểu cầu trong PRP và gây ra sự giải phóng của các yếu tố từ các hạt nhỏ α.
HÌNH 9.5 các yếu tố tăng trưởng chính có trong PRP (ảnh được sự cho phép của Lovreglio R và các cộng sự. Trích từ: Nonsurgical lip and eye rejuvena- tion techniques. Fabbrocini G, De Padova MP, Tosti A, eds. Springer, 2016)
  • EGF: kích thích sự phát triển của tế bào biểu mô, tăng sinh mạch máu và làm lành vết thương.
  • FGF: sửa chữa mô, kích thích sản xuất collagen và hyaluronic acid
  • VEGF: tăng tưởng và tăng sinh tế bào nội mô mạch máu
  • TGF-β: Tăng trưởng và tạo mới các tế bào nội mô và tế bào nội mô mạch máu, thúc đẩy quá trình lành vết thương.
  • PDGF: tăng trưởng tế bào, tăng sinh mới và sửa chữa các mạch máu và tổng hợp collagen
Các tế bào khác nhau như tế bào gốc trung mô trưởng thành, nguyên bào xương, nguyên bào sợi, tế bào nội mô và tế bào thượng bì có bộc lộ thụ thể của các yếu tố tăng trưởng có trong PRP trên màng tế bào. Khi các yếu tố tăng trưởng gắn với thụ thể của các tế bào sẽ kích thích tăng sinh tế bào, tạo chất nền, cốt hóa xương và tổng hợp collagen.

Điều quan trọng cần phải nắm đó là các yếu tố tăng trưởng PRP không gây đột biến gen vì chúng không đi vào bên trong tế bào hoặc nhân tế bào, do đó PRP không gây ra các khối u.
Do sự hiện diện nồng độ cao của các yếu tố tăng trưởng trên, PRP đã được sử dụng rộng rãi trong các thủ thuật phẫu thuật và điều trị lâm sàng bao gồm điều trị các vấn đề liên quan đến vết thương và thiếu hụt xương vùng hàm mặt, trong các phẫu thuật thẩm mỹ và phẫu thuật đường tiêu hóa [14,15].

Chỉ định

  • Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar, ice pick, và rolling
  • Sẹo lõm trứng cá liên quan nhiều hơn 30% diện tích mặt
  • Thường điều trị phối hợp với các phương pháp khác (lăn kim và laser)

Ưu điểm của PRP

  • Tăng sinh mạch máu
  • Khả năng kháng khuẩn
  • Kích thích hình thành biểu mô và mô liên kết
  • Có các yếu tố kích thích tạo xương
  • An toàn và không gây độc tế bào
  • Tự thân

Chống chỉ định

Chống chỉ định tuyệt đối

  • Hội chứng rối loạn chức năng tiểu cầu
  • Giảm tiểu cầu nặng
  • Huyết động không ổn định
  • Nhiễm trùng máu
  • Nhiễm trùng tại chỗ tại vị trí làm thủ thuật
  • Những bệnh nhân không chấp nhận được các nguy cơ của thủ thuật

Chống chỉ định tương đối

  • Sử dụng thuốc NSAIDs trong vòng 48h trước làm thủ thuật
  • Tiêm corticosteroid tại vị trí điều trị 1 tháng trước khi điều trị
  • Sử dụng corticosteroid hệ thống trong vòng 2 tuần
  • Hút thuốc
  • Sốt hoặc bị ốm gần đây
  • Ung thư, đặc biệt là ung thư tạo máu hoặc ung thư xương
  • Nồng độ hemoglobin <10 g/dL
  • Số lượng tiểu cầu < 105/µL

Quy trình tạo gel tiểu cầu tự thân

Chuẩn bị

Giai đoạn chuẩn bị của phương pháp tạo gel tiểu cầu là: lấy máu vào ống nghiệm, ly tâm tế bào, hoạt hóa, test kiểm soát chất lượng.

Lấy máu vào ống nghiệm PRP được chuẩn bị ngay sau khi lấy máu bệnh nhân. Sử dụng khoảng 40 cc máu tĩnh mạch có thể tạo ra được 7-9 cc PRP tùy thuộc vào lượng tiểu cầu của mỗi người, thiết bị được sử dụng, và kĩ thuật tiến hành. Máu được hút vào ống nghiệm có chứa chất chống đông như acid citrate dex- trose (ACD) để ngăn chặn quá trình hoạt hóa tiểu cầu trước khi sử dụng. PRP được chuẩn bị thông qua quá trình được gọi là ly tâm vi sai (phương pháp ly tâm dùng để tách các tổ chức nhỏ hơn tế bào). Trong phương pháp ly tâm vi sai, lực gia tốc được điều chỉnh để tách một số thành phần của tế bào dựa vào sự khác biệt trọng lực riêng.

Có nhiều cách để chuẩn bị PRP. Một phương pháp chuẩn bị được biết đó là phương pháp PRP (PRP methods). Trong phương pháp này, máu sẽ được li tâm lần thứ nhất để tách hồng cầu ra khỏi huyết tương, sau đó li tâm lần hai để cô đặc tiểu cầu trong một lượng nhỏ huyết tương. Ban đầu máu toàn phần được lấy vào trong ống nghiệm có chứa chất chống đông. Bước quay li tâm thứ nhất được thực hiện với một gia tốc cố định để tách hồng cầu ra khỏi thể tích máu toàn phần còn lại. Sau bước quay li tâm đầu tiên này, máu toàn phần sẽ được tách thành 3 lớp: lớp trên cùng chứa chủ yếu là tiểu cầu và bạch cầu, lớp mỏng ở giữa là lớp đệm chứa nhiều bạch cầu, và lớp phía dưới chứa chủ yếu là hồng cầu. Để có thể tạo ra PRP tinh khiết, thì hút lấy lớp phía trên và phần bề mặt lớp đệm cho vào ống ng- hiệm vô trùng để tiếp tục quay li tâm lần hai. Để tạo ra PRP giàu bạch cầu thì ta lấy toàn bộ lớp đệm và một ít hồng cầu cho lần li tâm tiếp theo. Sau đó tiến hành ly tâm lần thứ 2. Số vòng quay trong lần thứ 2 cần được điều chỉnh phù hợp để có thể tạo thành cục tiểu cầu màu hồng nhạt ở đáy ống nghiệm. Sau khi ly tâm lần hai, phần huyết tương phía trên chứa ít tiểu cầu (lớp PPP) sẽ được loại bỏ. Cục tiểu cầu sau đó được đồng nhất hóa với 5 mL huyết tương để tạo ra PRP chứa nồng độ bạch cầu cao.

Phương pháp PRP (PRP method)
  1. Lấy máu toàn phần bằng chân không vào ống nghiệm chứa ACD
  2. Không làm lạnh máu trước và trong thời gian tách tiểu cầu
  3. Ly tâm máu ở chế độ soft spin (tốc độ chậm)
  4. Hút phần huyết tương chứa nhiều tiểu cầu phía trên sang một ống nghiệm vô trùng khác (không có chứa chất chống đông)
  5. Ly tâm ống nghiệm ở tốc độ cao (chế độ hard spin) để cô đọng tiểu cầu
  6. 1/3 huyết tương ở đáy là PRP và 2/3 huyết tương phía trên là PPP. Cục tiểu cầu sẽ được hình thành ở đáy của ống nghiệm.
  7. Loại bỏ lớp PPP và đồng nhất cục tiểu cầu với lượng nhỏ huyết tương (5-7 mL) bằng cách lắc ống nghiệm.
Phương pháp Buffy-Coat
  1. Máu toàn phần được giữ ở nhiệt độ 20-24oC trước khi ly tâm
  2. Ly tâm máu toàn phần ở tốc độ cao
  3. Sau li tâm sẽ hình thành 3 lớp do tỷ trọng khác nhau: lớp đáy chứa hồng cầu, lớp giữa chứa tiểu cầu và bạch cầu, và lớp trên cùng chứa huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP)
  4. Loại bỏ lớp huyết tương trên cùng
  5. Hút lớp đệm (buffy-coat) sang một ống nghiệm vô trùng khác
  6. Ly tâm ở tốc độ thấp để tách bạch cầu hoặc sử dụng màng lọc bạch cầu.

Các loại PRP kit có sẵn trên thị trường

Hiện có nhiều hệ thống PRP được bán trên thị trường để hỗ trợ cho việc chuẩn bị PRP. Quy trình được thực hiện trên một lượng nhỏ máu (20-60 mL) được lấy từ bệnh nhân và dựa trên nguyên lí ly tâm. Những hệ thống này khác nhau rất nhiều trong khả năng năng lấy và cô đặc tiểu cầu tùy thuộc vào phương pháp và thời gian ly tâm. Kết quả là thu được phần huyết tương có nồng tiểu cầu và bạch cầu khác nhau. Sự khác nhau về nồng độ tiểu cầu và bạch cầu ảnh hưởng tới nồng độ và tính đa dạng của các yếu tố tăng trưởng. Rất khó để đánh giá bộ kit nào tốt hơn khi dùng để chuẩn bị PRP.
Các thiết bị PRP thường được chia thành hệ thống cô đặc thấp (2.5-3 lần so với nồng độ tiểu cầu trong máu) và hệ thống cô đặc cao (5-9 lần).

Làm giàu tế bào

Theo kinh nghiệm của tác giả, để có thể chuẩn bị gel PRP đồng nhất và đủ thể tích nhưng vẫn có tác dụng tốt thì nồng độ tiểu cầu cần đạt được khoảng 750.000-1.000.000/ µL. Ở nồng độ tiểu cầu này, có thể tạo gel trong 5-7 phút. Sau khi thu được PRP cần thực hiện xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu và dựa vào lượng tiểu cầu đếm được, ta có thể pha loãng hoặc cô đặc tiểu cầu trong điều kiện vô trùng.

Hoạt hóa

Có thể tạo thrombin tự thân để làm chất hoạt hóa theo các bước sau: Lấy một lượng máu khác (trong ống nghiệm chứa ACD hoặc sodium citrate), li tâm trong 10 phút ở tốc độ 3000 vòng/phút, hút phần huyết tương phía trên sang một ống nghiệm mới (trong điều kiện vô khuẩn), sau đó thêm vào 0.2 mL calcium gluconate cho mỗi 1 mL huyết tương, ủ ấm ở 37oC trong 15-30 phút, sau đó hút phần huyết tương chứa tiền throbin ở phía trên (trong điều kiện vô trùng), đông lạnh và giữ ở 30oC cho đến khi cần sử dụng. Để tạo dạng gel, tiểu cầu cô đặc được đặt trên một đĩa vô trùng và sau đó thêm chất hoạt hóa vào theo tỉ lệ 1 mL thrombin tự thân và 1 mL calcium gluconate cho mỗi 10 mL PRP. Lúc này, hỗn hợp được ủ ở nhiệt độ phòng. Nếu quá trình đông quánh diễn ra lâu hơn dự kiến, thì có thể ủ ấm ở 37oC trong 5 phút để tăng tốc độ phản ứng.

Tiểu cầu cô đặc cần phải được vô trùng. Các thành phần máu cần phải được chuẩn bị theo nguyên lý của Good Manufacturing Practice. Mỗi một thủ thuật phải được test kiểm tra chất lượng gồm: xác định thể tích, số lượng tiểu cầu, số lượng bạch cầu, và xét nghiệm nồng độ fibrinogen.

Ứng dụng lâm sàng của PRP

  • Sau khi li tâm, các thành phần tiểu cần và fibrin của máu được chiết ra và tiêm vào vùng cần điều trị.
  • Trong da liễu và thẩm mỹ nội khoa, PRP được sử dụng để điều trị:
  • Loét động mạch và tĩnh mạch ở chân
  • Loét bàn chân đái tháo đường
  • Loét ép
  • Vị trị hiến da trong thủ thuật ghép da
  • Bỏng nhiệt độ 1 và 2
  • Vết thương phẫu thuật, vết trợt, vết cắt và chấn thương bề mặt
  • Các vấn đề rụng tóc – PRP được chứng minh là có thể tái sinh các nang lông và kích thích mọc lông mới
  • Sẹo sau chấn thương- PRP phổi hợp với mô mỡ ly tâm và laser vi điểm tái tạo bề mặt có thể giúp cải thiện bề mặt sẹo
  • Trẻ hóa mặt- tiêm PRP có thể giúp điều trị nếp nhăn, tổn thương ánh sáng, thay đổi sắc tố da khi phối hợp với các phương pháp điều trị khác.
Tài liệu tham khảo

1. Ribè A, Ribè N. Neck skin rejuvenation: Histological and clinical changes after combined therapy with

a fractional non-ablative laser and stabilized hyaluronic acid-based gel of non-animal origin. J Cosm

Laser Therapy. 2011 August;13(4):154–61.

2. Williams S, Tamburic S, Stensvik H, Weber M. Changes in skin physiology and clinical appearance aftermicrodroplet placement of hyaluronic acid in aging hands. J Cosmet Dermatol. 2009;8(3):216–25.

3 . Montes JR. Volumetric considerations for lower eyelid and midface rejuvenation. Curr Opin Ophthalmol.

2012;23(5):443–9.

4. Berardesca E, Farinelli N, Rabbiosi G, Maibach HI. Skin bioengineering in the noninvasive assessment

of cutaneous aging. Dermatologica. 1991;182(1):1–6.

5. Halachmi S, Ben AD, Lapidoth M. Treatment of acne scars with hyaluronic acid: An improved approach.

J Drugs Dermatol. 2013;12(7):e121–3.

6. Toole BP, Yu Q, Underhill CB. Hyaluronan and hyaluronan-binding proteins. Probes for specic

detection. Methods Mol Biol. 2001;171:479–85.

7. Distante F, Pagani V, Bongli A. Stabilized hyaluronic acid of non-animal origin for rejuvenating the

skin of the upper arm. Dermatol Surg. 2009;35(Suppl. 1):389–93; discussion 394.


8. Micheels P, Besse S, Sarrazin D. Visual, ultrasonographic, and microscopic study on hyaluronic acid-

based gel. J Drugs Dermatol. 2016;15(9):1092–8.

Platelet-Rich Plasma

9. Ferrari M, Zia S, Valbonesi M. A new technique for hemodilution, preparation of autologous platelet-rich

plasma and intraoperative blood salvage in cardiac surgery. Int J Artif Organs. 1987;10:47–50.

10. Zhu JT, Xuan M, Zhang YN et al. Fibrin glue: The perfect operative sealant? Transfusion. 1990;30(8):741–7.

11. Simion Labusca L, Cionca D. Clinical review about the role use of platelet rich plasma for the treatment of

traumatic and degenerative musculoskeletal disorders. Ortho & Rheum Open Access J. 2016;2(3):555–589.

12. Sampson S, Gerhardt M, Mandelbaum B. Platelet rich plasma injection grafts for musculoskeletal

injuries: A review. Curr Rev Musculoskelet Med. 2008;1(3–4):165–74.

13. Everts P, Knape J, Weirich G et al. Platelet-rich plasma and platelet gel: A review. JECT. 2006;38:174–87.

14. Leo MS, Kumar AS, Kirit R, Konathan R, Sivamani RK. Systematic review of the use of platelet-rich

plasma in aesthetic dermatology. J Cosmet Dermatol. 2015;14(4):315–23. Review.

15. Graziani F, Ivanovski S, Cei S et al. The in vitro effect of different PRP concentrations on osteoblasts

and broblasts. Clin Oral Implants Res. 2006;17(2):212–9.

16. Sulamanidze MA, Fournier PF, Paikidze TG, Sulamanidze GM. Removal of facial soft tissue ptosis with

special threads. Dermatol Surg. 2002;28(5):367–71.

17. Sulamanidze MA, Paikidze TG, Sulamanidze GM, Neigel JM. Facial lifting with “APTOS” threads:

Featherlift. Otolaryngol Clin North Am. 2005;38(5):1109–17.

18. Sulamanidze MA, Sulamanidze G. Facial lifting with Aptos methods. J Cutan Aesthet Surg. 2008;1(1):7–11.

19. Sulamanidze MA, Sulamanidze G. APTOS suture lifting methods: 10 years of experience. Clin Plast

Surg. 2009;36(2):281–306, viii.

20. Sulamanidze MA, Sulamanidze G, Vozdvizhensky I, Sulamanidze C. Avoiding complications with

Aptos sutures. Aesthet Surg J. 2011;31(8):863–73.

21. Sun DH, Jang HW, Lee SJ, Ryu HJ. Outcomes of polydioxanone knotless thread lifting for facial

rejuvenation. Dermatol Surg. 2015;41(6):720–5.

22. Silva-Siwady JG, Diaz-Garza C, Ocampo-Candiani J. A case of Aptos thread migration and partial

expulsion. Dermatol Surg. 2005;31(3):356–8.

23. Giampapa VC, Di Bernardo BE. Neck recontouring with suture suspension and liposuction: An

alternative for the early rhytidectomy candidate. Aesthetic Plast Surg. 1995;19(3):21–3.

24. Lycka B, Bazan C, Poletti E, Treen B. The emerging technique of antiptosis subdermal suspension thread.

Dermatol Surg. 2004;30(1):41–4.

25. Sasaki GH, Cohen AT. Meloplication of the malar fat pads by percutaneous cable-suture technique

for midface rejuvenation: Outcome study (392 cases, 6 years’ experience). Plast Reconstr Surg.

2002;110(2):635–54.

26. Lovreglio R, Fabbrocini G, Delno M. The nonsurgical thread lift for facial rejuvenation. In: Nonsurgical

Lip and Eye Rejuvenation Techniques. Fabbrocini G, De Padova MP, Tosti A, eds. Springer, 2016, 85–96.

Polylactic Resorbable Threads

27. Villa MT, White LE, Alam M, Yoo SS, Walton RL. Barbed sutures: A review of the literature. Plast

Reconstr Surg. 2008;121:102e–8e.


Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét