LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

KỸ THUẬT PHẪU THUẬT: CẮT ĐÁY SẸO, GHÉP DA (GRAFTING) CẮT KHÂU SẸO VÀ CÁC KỸ THUẬT BẤM SẸO (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting) cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo (phần 2)

GHI NHỚ

  • Các phương pháp tiếp cận điều trị đối với sẹo trứng cá nên được cá nhân hóa và được quyết định dựa trên đặc điểm hình thái sẹo của mỗi bệnh nhân.
  • Những can thiệp phẫu thuật được mô tả trong chương này là cần thiết để sữa chữa các loại sẹo trứng cá sâu và xơ hóa.
  • Cắt đáy sẹo là thủ thuật đơn giản, dung nạp tốt và có thể giúp cải thiện theo thời gian đối với sẹo rolling.
  • Ghép da là phương pháp ghép tự thân có thể giúp làm đầy vĩnh viễn sẹo trứng cá lõm sâu.
  • Kĩ thuật cắt và sinh thiết sẹo vẫn là lựa chọn điều trị đối với sẹo trứng cá sâu và sắc cạnh.
  • Tất cả những thủ thuật được mô tả trong chương này có thể được phối hợp trong phương án điều trị nhiều bước được thiết kế theo nhu cầu cá nhân của mỗi bệnh nhân.

Giới thiệu

Kinh nghiệm lâm sàng và những nghiên cứu y học đã cho thấy hầu hết các trường hợp sẹo trứng cá không thể được giải quyết bằng một phương pháp điều trị “tốt nhất” đơn lẻ. Sẹo trứng cá rất đa dạng về cấu trúc và độ sâu, và mỗi một phương pháp điều trị hiện tại chỉ phù hợp nhất với một trong các loại sẹo. Trong khi các thủ thuật tái tạo bề mặt tỏ ra rất hữu ích trong giải quyết những rối loạn trong cấu trúc và sắc tố gây ra bởi sẹo trứng cá từ nông-trung bình-sâu, thì filler lại là phương pháp hiệu quả trong làm đầy sẹo co giãn, lõm sâu. Những can thiệp phẫu thuật được mô tả trong chương này gồm cắt đáy sẹo (subcision), ghép da (dermal grafting), kĩ thuật cắt và sinh thiết sẹo (excision and punch techniques) là những lựa chọn tốt nhất giúp cải thiện các dạng sẹo bị xơ hóa nhất và sâu nhất bên cạnh các phương pháp chỉnh sửa sẹo nông bề mặt.

Cả hai phương pháp cắt đáy sẹo và ghép da đều nhằm đạt được sự làm đầy lâu dài đối với những sẹo lõm sâu nhưng không rõ bờ sẹo. Cắt đáy sẹo được ứng dụng để điều trị sẹo trứng cá dạng rolling gây ra bởi sự hình thành các sợi xơ neo từ bề mặt sẹo với các cấu trúc sâu hơn phía dưới của da. Do sự tồn tại của các sợi xơ này, loại sẹo này không thể được chỉnh sửa hiệu quả bởi thủ thuật filler da đơn thuần nhưng lại có thể cải thiện khi áp dụng phương pháp cắt đáy sẹo để làm đứt những sợi xơ bên dưới bề mặt những sẹo rolling. Ghép da là thủ thuật cấy ghép một dải hoặc một mảnh da tự thân vào vùng sẹo đã đã được cắt bỏ và có thể đạt được hiệu quả làm đầy lâu dài đối với những sẹo lõm sâu gây ra bởi tổn thương mất da.

Cắt và sinh thiết sẹo là kĩ thuật được sử dụng để thay thế các loại sẹo sâu, bờ sắc như sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu bằng một sẹo thứ phát ít xấu hơn. Trong thủ thuật cắt hình elip và cắt bằng dụng cụ bấm, sẹo được phẫu thuật loại bỏ và được đóng lại một cách cẩn thận để có thể tạo ra một đường sẹo phẳng nằm trùng với các nếp da tự nhiên. Ghép da sau khi cắt sẹo bằng dụng cụ bấm là phương pháp thay thế sẹo đã bị bấm cắt bằng một mảnh da lành tự thân với đầy đủ độ dày và sự phát triển của mảnh da mới là nhờ vào sự bào tồn của lớp đáy sẹo khi cắt cho phép mảnh da mới có thể phát triển bằng với mô da xung quanh.

Đối với tất cả những thủ thuật phẫu thuật được mô tả trong chương này, cần thiết phải lựa chọn bệnh nhân một cách cẩn thận và giao tiếp liên tục với bệnh nhân. Mặc dù những thủ thuật này có tiềm năng giúp cải thiện thậm chí đối với dạng nặng nhất của sẹo trứng cá, bệnh nhân phải có kỳ vọng đúng thực tế và nên tư vẫn kĩ cho bệnh nhân về mức độ cải thiện có thể đạt được khi điều trị. Mặt dù có thể cải thiện được sự không đều về bề mặt, cấu trúc và sắc tố nhưng việc loại bỏ hoàn toàn sẹo gần như là không thể. Vì nhiều bệnh nhân có đồng thời nhiều loại sẹo trứng cá khác nhau và do một vài trong các phương pháp điều trị này có thể tạo ra những sẹo thứ phát nên việc phối hợp nhiều thủ thuật khác nhau trong một liều trình kéo dài nhiều tháng là cần thiết để đạt được kết quả khả quan nhất. Ngoài ra, khi lên kế hoạch điều trị, bác sĩ lâm sàng nên lưu ý cẩn thận xem
bệnh nhân có sẵn sàng chấp nhận khoảng thời gian hồi phục sau điều trị hay không. Trước khi đề xuất bất kì một thủ thuật chỉnh sửa sẹo nào thì cần thiết phải hỏi sơ qua về tiền sử phẫu thuật và bệnh lý của bệnh nhân. Bệnh nhân nếu có nguy cơ cao bị sẹo lồi và sẹo phì đại hay những người có mụn trứng cá đang hoạt động hoặc hoạt động gần đây không phải là ứng cử viên tốt cho các thủ thuật phẫu thuật chỉnh sữa sẹo [1] (bảng 12.1).

BẢNG 12.1

Đặc điểm khiến bệnh nhân có thể bị chống chỉ định với các phẫu thật điều trị sẹo

Đặc điểm

Lý do chống chỉ định

Tiền sử chậm lành vết thương hoặc có xu hướng hình thành sẹo lồi/sẹo phì đại

Nguy cơ hình thành sẹo xấu không mong muốn

Mong muốn không thực tế

Việc loại bỏ hoàn toàn sẹo gần như là không thể. Kết quả tốt nhất có thể đạt được cần phải có sự phối hợp của nhiều phương pháp điều trị khác nhau trong một liệu trình kéo dài nhiều tháng.

Đang hoặc gần đây có tổn thương mụn trứng cá hoạt động

Sự phá vỡ các đơn vị nang lông- tuyến bã trong quá trình làm các thủ thuật phẫu thật có thể dẫn đến hình thành các nang dạng trứng cá.

Subcision

Lịch sử

Vào năm 1995, Orentreich và Orentreich đã giới thiệu kĩ thuật cắt đáy sẹo như là phương pháp điều trị duy nhất đối với sẹo lõm sâu và nếp nhăn [2]. Tuy nhiên, cắt đáy sẹo đã được sử dụng sớm hơn vào năm 1957 khi nó được mô tả như là phương pháp để chuẩn bị không gian cho thủ thuật tiêm bọt fibrin [3]. Kể tử đó, cắt đáy sẹo đã được sử dụng thường xuyên phối hợp với các thủ thuật cấy fibrel [4, 5], tiêm vi mỡ [6] và ghép da [7].

Cấu trúc và chức năng

Cắt đáy sẹo được sáng tạo để giải quyết cơ chế bệnh sinh bên dưới của sẹo trứng cá rolling. Những loại sẹo này rộng, lõm xuống thấp hơn bề mặt da và có bờ không rõ như bờ của sẹo boxcar và sẹo ice pick. Mặc dù là sẹo nông, rolling scar là kết quả của việc hình thành các sợi xơ neo thượng bì với mô dưới da. Phương pháp cắt đáy sẹo được áp dụng để bóc tách các dải xơ trong khi chỉ gây tổn thương tối thiểu đế bề mặt da. Điểm đặc trưng của thủ thuật này là làm nâng sẹo lõm lên ngang mức với mô da xung quanh. Những người đầu tiên sử dụng phương pháp này là David và Norman Orentreich, họ đã cho rằng tác dụng làm đầy thấy được sau khi cắt đáy sẹo là kết quả của 2 quá trình khác nhau [2]. Sự nâng lên của bề mặt sẹo một phần diễn ra ngay lập tức là kết quả thu được do đáy sẹo bị cắt và tách khỏi các bó sợi xơ vốn neo và kéo bề mặt sẹo xuống gắn với mô dưới da [2, 8]. Những tuần sau cắt đáy sẹo, tác dụng làm đầy tiếp tục được quan sát thấy. Đây là kết quả của những tổn thương vật lí gây ra trong quá trình thủ thuật, những tổn thương này đã đưa đến phản ứng làm lành vết thương và từ đó tạo ra tích lũy của mô liên kết mới bên dưới bề mặt sẹo [2, 9].

Kỹ thuật cắt đáy sẹo

Chỉ định

Cắt đáy sẹo được chỉ định tốt nhất để điều trị sẹo trứng cá rolling có bề mặt sẹo giống với da bình thường và không có bờ sắc cạnh [2]. Phương pháp này chống chỉ định với những vùng da đang bị nhiễm trùng và ở những bệnh nhân có cơ địa dễ chảy máu hoặc có xu hướng hình thành sẹo lồi [2]. Các trường hợp lõm da khác như nếp nhăn mặt, miếng ghép da lõm, vết thương phẫu thuật và các điểm lún trong bệnh sẩn da cam (cellu- lite) cũng được cân nhắc để trở thành chỉ định của cắt đáy sẹo [2, 10].

Ưu điểm/ nhược điểm

Ưu điểm chính của cắt đáy sẹo là khả năng cải thiện lâu dài tình trạng sẹo trứng cá rolling trong khi chỉ gây tổn thương tối thiểu bề mặt da phía trên. Thủ thuật này dễ thực hiện, thường an toàn và bệnh nhân có thể dung nạp tốt. Mặc dù phương pháp này có thể gây bầm tím và phù, nhưng những biến chứng này sẽ biến mất trong thời gian ngắn. Hơn nữa, dụng cụ cần thiết để làm thủ thuật rẻ và có sẵn.

Một nhược điểm của cắt đáy sẹo là nếu sử dụng phương pháp này đơn thuần trong điều trị sẹo thì sẽ không đảm bảo tạo được sử cải thiện chính yếu của tình trạng sẹo. Vì kết quả cuối cùng của thủ thuật phụ thuộc duy nhất vào khả năng đáp ứng của mỗi cá nhân, do đó khó có thể dự đoán được kết quả của điều trị ban đầu [2]. Để đặt được kết quả tốt nhất, một vài bệnh nhân cần phải tiến hành một vài lần điều trị hoặc phối hợp với các thủ thuật khác như tái tạo bề mặt hoặc tiêm chất làm đầy (filler).

Biến chứng

Đỏ da, bầm tím, phù và đau là những biến chứng có thể dự đoán trước và những biến chứng này có thể kéo dài tại vị trí cắt đáy sẹo từ 1-2 tuần [2, 11]. Biến chứng khác có thể có như hình thành các nang mụn, biến chứng này xuất hiện do sự phá hủy các đường hầm thông giữa các xoang trứng cá hoặc do làm vỡ các đơn vị nang lông-tuyến bã [2, 11].

Thường thì sau khi cắt đáy sẹo sẽ thấy được sự cải thiện một phần của sẹo lõm, tuy nhiên cũng có thể xảy ra trường hợp đáp ứng quá mức hoặc đáp ứng phì đại trong khoảng từ 5%-10% các trường hợp [2, 11]. Một đáp ứng quá mức có thể tạo thành vết chai nhỏ, sờ được tại vùng được điều trị [12]. Những vùng chai này có thể không thể được nhìn thấy bằng mắt thường và phẳng đi theo thời gian. Bệnh nhân cần được thông tin rằng những khối gồ sờ được nhưng không thấy được có thể sẽ lan rộng thêm và nhờ đó sẽ giúp cải thiện thêm mức độ trơn láng của bề mặt da.

Phối hợp cắt đáy sẹo với những phương pháp khác

Cắt đáy sẹo có thể được dùng phối hợp với những phương án điều trị khác như tiêm filler, tái tạo bề mặt bằng laser, lăn kim, lăn kim RF, peel bằng trichloroacetic hoặc tái tạo da bằng hóa chất [13-19]. Trong nhiều trường hợp, khi phối hợp điều trị sẽ mang lại kết quả tốt hơn, đặc biệt là khi sẹo rolling nằm rải rác so với các dạng khác của sẹo trứng cá.

Lời khuyên thực hành đối với các bác sĩ

Chảy máu và bầm máu trong khi tiến hành thủ thuật được xem là bình thường và có thể có lợi vì sự tích tụ máu bên đưới sẹo có thể thúc đẩy quá trình tạo thành collagen mới [11] (hình 12.1).
Trước khi tiến hành điều trị, đều quan trọng là bệnh nhân phải hiểu được sự cải thiện hoàn toàn sau một lần điều trị với phương pháp cắt đáy sẹo là không thể và cần phải tiến hành điều trị nhiều lần để có thể đạt được kết quả tốt nhất.

Hình 12.1 Ngay sau khi cắt đáy sẹo, có thể xuất hiện chảy máu và bầm tím tại vị trí được điều trị. Những biến chứng này có thể thấy trước được và có lợi vì giúp kích thích hình thành collagen mới bên dưới sẹo lõm.

Quy trình tiến hành thủ thuật

Trước khi bắt đầu thủ thuật, cần phải làm sạch da và vẽ ranh giới sẹo lõm bằng cách sử dụng bút đánh dấu trong phẫu thuật. Vị trí này sau đó được tiêm dung dịch lidocaine 1% pha với epinephrine theo tỉ lệ 1:100000. Vùng được gây tê nên được mở rộng ra quá bờ của mỗi vết sẹo để đảm bảo quá trình đâm kim vào không gây đau đớn. Khi thuốc tê đạt hiệu quả và mạch máu co lại, một cây kim cắt [2] hay còn gọi là kim Nokor [11, 12] (Becton Dickinson, Franklin Lakes, NJ, USA) được đâm vào da ở vị trí bên cạnh sẹo lõm và đầu kim sau đó được đẩy đến vị trí bên dưới sẹo lõm (hình 12.2). Độ sâu khi đâm kim sẽ phụ thuộc vào độ nặng của mỗi sẹo, với sẹo lõm nông thì đưa kim cắt đến vị trí lớp bì giữa và với sẹo lõm sâu thì cần đưa kim đến cắt ở lớp bì sâu hoặc mô dưới da [11].

Di chuyển kim cắt đáy sẹo tới trước và lui ra sau như chuyển động trong đường hầm để cắt mô sẹo bị xơ hóa (hình 12.2). Khi khối xơ được phá, di chuyển kim qua về hai bên theo hướng song song với bề mặt da để giải phóng sẹo khỏi các cột xơ (hình 12.2). Với những sẹo nhiều xơ, có thể tiến hành đâm kim tại nhiều vị trí để cắt đáy sẹo từ nhiều góc khác nhau [1]. Khi những sợi xơ cuối cùng được cắt, có thể thấy bề mặt da được nâng lên. Sau thủ thuật, có thể bôi mỡ kháng sinh và băng ép vết thương lại [1]. Những cải tiến trong thủ thuật này đã được đề xuất. Những tiến bộ của thủ thuật tập trung chủ yếu vào việc thay thế dụng cụ cắt đáy sẹo: bẻ cong kim cắt đáy sẹo một góc 900 để hạn chế sự xuyên sâu và/hoặc giảm tổn thương đến da [20]; sử dụng kìm kẹp kim đối với kim Nokor để giúp định hướng theo phương ngang (song song với bề mặt da) và tránh bị rút lui kim [21]; sử dụng kim cannula tủy sống (cannula kim loại) G 18 hoặc 21 (Hakko Co.,Chikuma, Japan) được chứng minh có tỉ lệ lành cao [22]; sử dụng dao phẫu thuật đục thủy tinh thể G 20 vì sử dụng dao này làm tăng độ sắc, tăng khả năng kiểm soát độ sâu và độ chính sát, cắt xa hơn, và dễ cầm hơn [23]; và tiêm dung dịch gây phồng trước khi cắt đáy sẹo bằng dao cùn để tránh nguy cơ phẫu thuật viên bị chích bởi kim đã dính máu bệnh nhân [24]. Tất cả những cải tiến trên đã được chứng minh là giúp cải thiện tình trạng sẹo trứng cá.

Một tiến bộ trong dụng cụ cắt đáy sẹo gần đây là Taylor Liberator, đây là một dụng cụ bằng kim loại dài hơn và dễ cầm bằng tay hơn, có đầu sắc bén giống như một cái nĩa. Dụng cụ này được đưa vào lớp mô dưới da nông qua một vết cắt nhỏ ở vùng trước tai, sau đó nó được đẩy từ một điểm duy nhất này đến dưới sẹo trứng cá ở vùng má giữa và vùng quanh miệng cùng bên. Lợi ích khi sử dụng dụng cụ mới này là cần ít điểm đâm vào da hơn và ít gây tổn thương thượng bì hơn. Khi sử dụng cần phải lưu ý giữ dụng cụ này nông để tránh gây tổn thương quá mức và gây dị cảm thoáng qua trên da mặt bệnh nhân.

Một ưu điểm nữa của dụng cụ này là khả năng căng da mặt vật lý ở vùng được điều trị. Những bệnh nhân thực hiện hút bằng thiết bị microdermabrasion vào ngày thứ 3 sau khi cắt đáy sẹo và tiếp tục thực hiện cách ngày trong thời gian ít nhất 2 tuần cho thấy có sự cải thiện rõ hơn [25]. Tương tự, dù không được nghiên cứu để sử dụng trong điều trị sẹo trứng cá, nhưng việc khâu một vòng chỉ ở trung tâm sẹo lõm để kéo sẹo lên theo phương thẳng góc trong quá trình cắt đáy sẹo cũng giúp cải thiện sẹo trứng cá [26]. Các tác giả cho rằng việc kéo sẹo lên cho phép giải phóng các dải xơ ở mặt phẳng sâu hơn, do đó cách này có thể áp dụng trong trường hợp sẹo trứng cá sâu hơn, có nhiều bó sợi xơ hơn và cần phải nghiên cứu thêm [26].
Hình 12.2 Cắt đáy sẹo. (a) Kim Nokor (Becton Dickinson, Franklin Lakes, NJ, USA) được đưa vào da theo một góc tại vị trí cạnh vết sẹo để lưỡi dao của kim nằm ngay bên dưới vùng lõm của sẹo và song song với bề mặt da. Kim cắt đáy sẹo sau đó được di chuyển tới lui như chuyển động trong đường hầm để cắt các mô xơ. (b) Tiếp theo, kim được đưa qua về sang hai bên phía dưới sẹo để đảm bảo cắt tất cả các bó xơ. (c) Sau khi lành, sẹo không còn bị neo xuống bởi mô dưới da nữa và bề mặt sẹo được nâng lên.

Xử lí biến chứng

Nếu hình thành nang tại vị trí cắt đáy sẹo, có thể điều trị bằng cách tiêm steroid vào trong tổn thương và kháng sinh đường uống. Phần da cứng gây ra do phản ứng phì đại thường sẽ biến mất mà không cần phải can thiệp, nhưng có thể làm quá trình này diễn ra nhanh hơn bằng cách dùng ngón tay massage hàng ngày tại vị trí biến chứng [12] hoặc tiêm cor- ticosteroid liều thấp vào tổn thương [1,2,11].

Tài liệu tham khảo:
1. Jacob CI, Dover JS, Kaminer MS. Acne scarring: A classication system and review of treatment options.
J Am Acad Dermatol. 2001;45:109–17.
2. Orentreich DS, Orentreich N. Subcutaneous incisionless (subcision) surgery for the correction of
depressed scars and wrinkles. Dermatol Surg. 1995;21:543–9.
3. Spangler AS. New treatment for pitted scars; preliminary report. AMA Arch Derm. 1957;76:708–11.
4. Millikan L, Rosen T, Monheit G. Treatment of depressed cutaneous scars with gelatin matrix implant:
A multicenter study. J Am Acad Dermatol. 1987;16:1155–62.
5. Cohen I. Fibrel®. Semin Dermatol. 1987;6:228–37.
6. Hambley RM, Carruthers JA. Microlipoinjection for the elevation of depressed full-thickness skin grafts
on the nose. J Dermatol Surg Oncol. 1992;18:963–8.
7. Swinehart J. Pocket grafting with dermal grafts: Autologous collagen implants for permanent correction
of cutaneous depressions. Amer J Cosm Surg. 1995;12:321–31.
8. Orentreich D, Orentreich N. Acne scar revision update. Dermatol Clin. 1987;5:359–68.
9. Goodman GJ. Post-acne scarring: A short review of its pathophysiology. Australas J Dermatol.
2001;42:84–90.
10. Hexsel DM, Mazzuco R. Subcision: A treatment for cellulite. Int J Dermatol. 2000;39:539–44.
11. Goodman GJ. Therapeutic undermining of scars (subcision). Australas J Dermatol. 2001;42:114–7.
12. Alam M, Omura N, Kaminer MS. Subcision for acne scarring: Technique and outcomes in 40 patients.
Dermatol Surg. 2005;31:310–7.
13. Balighi K, Robati RM, Moslehi H, Robati AM. Subcision in acne scar with and without subdermal
implant: A clinical trial. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2008;22:707–11.
14. Fulchiero GJ Jr., Parham-Vetter PC, Obagi S. Subcision and 1320 nm Nd:YAG nonablative laser
resurfacing for the treatment of acne scars: A simultaneous split-face single patient trial. Dermatol
Surg. 2004;30:1356–9.
15. Branson DF. Dermal undermining (scarication) of active rhytids and scars: Enhancing the results of
CO2 laser skin resurfacing. Aesthet Surg J. 1998;18:36–7.
16. Gadkari R, Nayak C. A split-face comparative study to evaluate efcacy of combined subcision and
dermaroller against combined subcision and cryoroller in treatment of acne scars. J Cosmet Dermatol.
2014;13(1):38–43.
17. Faghihi G, Poostiyaan N, Asilian A, Abtahi-Naeini B, Shahbazi M, Iraji F, Fatemi Naeini F,
Nilforoushzadeh MA. Efcacy of fractionated microneedle radiofrequency with and without adding
subcision for the treatment of atrophic facial acne scars: A randomized split-face clincal study. J Cosmet
Dermatol. 2017;16(2):223–9.
18. Taylor MB, Zaleski-Larsen L, McGraw TA. Single session treatment of rolling acne scars using
tumescent anesthesia, 20% trichloroacetic acid, extensive subcision, and fractional CO2 laser. Dermatol
Surg. 2017;43(Suppl 1):S70–4.
19. Kaur J, Kalsy J. Subcision plus 50% trichloracetic acid chemical reconstruction of skin scars
in the management of atrophacne scars: A cost-effective therapy. Indian Dermatol Online J. 2014;5(1):95–7.
20. AlGhamdi KM. A better way to hold a Nokor needle during subcision. Dermatol Surg. 2008;34:378–9.
21. Khunger NKM. Subcision for depressed facial scars made easy using a simple modication. Dermatol
Surg. 2011;37:514–7.
22. Nilforoushzadeh M, Lot E, Nickkholgh E, Salehi B, Shokrani M. Can subcision with the cannula be
an acceptable alternative method in treatment of acne scars? Medical Archives. 2015;69(6):384–6.
23. Ayeni O, Carey W, Muhn C. Acne scara treatment with subcision using a 20-G cataract blade. Dermatol
Surg. 2011;37(6):846–7.
24. Barikbin B, Akbari Z, Youseif M, Dowlati Y. Blunt blade subcision: An evolution in the treatment of
atrophic acne scars. Dermatol Surg. 2017;43(Suppl 1):S57–63.
25. Aalami Harandi S, Balighi K, Lajevardi V, Akbari E. Subcision-suction method; a new successful
combination therapy in treatment of atrophic acne scars and other depressed scars. J Eur Acad Dermatol
Venerol. 2011;25(1):92–9.
26. Pereira O, Bins-Ely J, Paulo EM, Lee KH. Treatment of skin depression with combined upward suture
traction and percutaneous subcision. Plast Reconstr Surg Glob Open. 2015;3:e534.
27. Peer LA, Paddock R. Histologic studies on the fate of deeply implanted dermal grafts: Observations on
sections of implants buried from one week to one year. Arch Surg. 1937;34:268.
28. Swinehart JM. Dermal grafting. Dermatol Clin. 2001;19:509–22.
29. Goodman GJ. Autologous fat and dermal grafting for the correction of facial scars. In: Surgical
Techniques for Cutaneous Scar Revision. Harahap M, ed. New York: Marcel Dekker, 2000, 311–48.
30. Goodman G. Laser-assisted dermal grafting for the correction of cutaneous contour defects. Dermatol
Surg. 1997;23:95–9.
31. Meyers S, Rohrer T, Grande D. Use of dermal grafts in reconstructing deep nasal defects and shaping
the ala nasi. Dermatol Surg. 2001;27:300–5.

Surgical Techniques 117
32. Shilpa K, Sacchidanand S, Leelavathy B, Shilpashree P, Divya G, Ranjitha R, Lakshmi DV. Outcome of
dermal grafting in the management of atrophic facial scars. J Cutan Aesthetic Surg. 2016;9:244–8.
33. Nita AC, Orzan OA, Filipescu M, JIanu D. Fat graft, laser CO2, and platelet-rich plasma synergy in scars
treatment. J Med Life. 2013;6(4):430–3.
34. Tenna S, Cogliandro A, Barone M, Panasiti V, Tirindelli M, Nobile C, Persichetti P. Comparative study
using autologous fat grafts plus platelet-rich plasma with or without fractional CO2 laser resurfacing
in treatment of acne scars: Analysis of outcomes and satisfaction with FACE-Q. Aesthetic Plast Surg.
2017;41(3):661–6.
35. Choi JM, Rohrer TE, Kaminer MS, Batra RS. Surgical approaches to patients with scarring. In: Scar
Revision. Arndt KA, ed. Philadelphia: Elsevier Saunders, 2006, 45–66.
36. Nagaraju U, Chikkaiah MK, Raju BP, Agarwal P. Autologous smashed dermal graft with epidermal
re-closure: Modied technique for acne scars. J Cutan Aesthet Surg. 2016;9(4):258–62.
37. Solotoff SA. Treatment for pitted acne scarring–postauricular punch grafts followed by dermabrasion.
J Dermatol Surg Oncol. 1986;12:1079–84.
38. Johnson WC. Treatment of pitted scars: Punch transplant technique. J Dermatol Surg Oncol.
1986;12:260–5.
39. Stal S, Hamilton S, Spira M. Surgical treatment of acne scars. Clin Plast Surg. 1987;14:261–76.
40. Dzubow LM. Scar revision by punch-graft transplants. J Dermatol Surg Oncol. 1985;11:1200–2.
41. Eiseman G. Reconstruction of the acne-scarred face. J Dermatol Surg Oncol. 1977;3:332–8.
42. Stegman SJ. Cosmetic Dermatologic Surgery. 2nd ed. Chicago: Year Book Medical Publishers, Inc., 1990.
43. Lee JB, Chung WG, Kwahck H, Lee KH. Focal treatment of acne scars with trichloroacetic acid:
Chemical reconstruction of skin scars method. Dermatol Surg. 2002;28:1017–21.
44. Tsao SS, Dover JS, Arndt KA, Kaminer MS. Scar management: Keloid, hypertrophic, atrophic, and acne
scars. Semin Cutan Med Surg. 2002;21:46–75.
45. Koranda FC. Treatment and modalities in facial acne scars. In: Facial Scars: Incision, Revision, and
Camouflage. Thomas JR, Holt GR, eds. St. Louis: The C.V. Mosby Company, 1989, 278–89.
46. Haneke E. Fusiform excision and serial excisions. In: Surgical Techniques for Cutaneous Scar Revision.
Harahap M, ed. New York: Marcel Dekker, 2000, 359–80.
47. Usatine R. Elliptical excision. In: Skin Surgery: A Practical Guide. Usatine RP, Moy RL, eds. St. Louis:
Mosby, 1998, 120–36.
48. Grifn E. Punch transplant technique for pitted scars. In: Surgical Techniques for Cutaneous Scar
Revision. Harahap M, ed. New York: Marcel Dekker, 2000, 259–74.
49. Grevelink JM, White VR. Concurrent use of laser skin resurfacing and punch excision in the treatment
of facial acne scarring. Dermatol Surg. 1998;24:527–30.
50. Goodman GJ. The limitations of skin resurfacing techniques. The necessity to combine procedures.
Dermatol Surg. 1998;24:687–8.
51. Faghihi G, Nouraei S, Asilian A et al. Efcacy of punch elevation combined with fractional carbon
dioxide laser resurfacing in facial atrophic acne scarring: A randomized split-face clinical study. Indian
J Dermatol. 2015;60(5):473–8.
52. Lanoue J, Goldenberg G. Acne scarring: A review of cosmetic therapies. Cutis. 2015;95(5):276–81.
53. Frank W. Therapeutic dermabrasion back to the future. Arch Dermatol. 1994;130:1187–9.
54. Abdel Hay R, Shalaby K, Zaher H, Hafez V, Chi CC, Dimitri S, Nabhan AF, Layton AM. Interventions
for acne scars. Cochraine Database Sys Rev. 2016;4:CD011946.
55. Goodman GJ. Treatment of acne scarring. In: Pathogenesis and Treatment of Acne and Rosacea.
Zouboulis Christos C, Katsambas Andreas D, Kligman Albert M, eds. Heidelberg: Springer Berlin,
2014, 527–36.
56. Hession MT, Graber EM. Atrophic acne scarring: A review of treatment options. J Clin Aesthet Dermatol.
2015;8:50–8.
57. Christophel JJ, Elm C, Endrizzi BT et al. A randomized controlled trial of fractional laser therapy and
dermabrasion for scar resurfacing. Dermatol Surg. 2012;38:595–602.
58. Gurtner GC, Werner S, Barrandon Y, Longaker MT. Wound repair and regeneration. Nature.
2008;453:314–21.
59. Zaleski-Larsen LA, Fabi SG, McGraw T, Taylor M. Acne scar treatment: A multimodality approach
tailored to scar type. Dermatol Surg. 2016;43(Supply 2):S139–49.

118 Acne Scars
60. Ibrahim ZA, Eltatawy RA, Ghaly NR, Abd El-Naby NM, Abou El Fetouh HM, Abd Elateef AE, Abdou
S, Tahaa A, El Afandy M. Autologous bone marrow stem cells in atrophic acne scars: A pilot study.
J Dermatol Treat. 2015;26(30):260–5.
61. Zhou BR, Zhang T, Bin Jameel AA, Xu Y, Xu Y, Guo SL, Wang Y, Permatasari F, Luo D. The efcacy
of conditioned media of adipose-derived stem cell combined with ablative carbon dioxide fractional
resurfacing for atrophic acne scars and skin rejuvenation. J Cosmet Laser Ther. 2016;18(3):138–48.
62. Neuber F. Fetttranspalntation. Zentrabl Chir. 1893;22:66.
63. Coleman SR. Structural fat grafting: More than a permanent filler. Plast Reconstr Surg.
2006;118(Suppl 3):108S–120S.
64. Zuk PA, Zhu M, Mizuno H et al. Multilineage cells from human adipose tissue: Implications for cellbased
therapies. Tissue Eng. 2001;7(2):211–28.
65. Seidel R, Moy RL. Improvement in atrophic acne scars using topical synthetic epidermal growth factor
(EGF) serum: A pilot study. J Drug Dermatol. 2015;14(9):1005–10.
66. Barolet D, Boucher A. Prophylactic low-level light therapy for the treatment of hypertrophic scars and
keloids: A case series. Lasers Surg Med. 2010;42(6):597–601.
67. Avci P, Gupta A, Sadasivam M, Vecchio D, Pam Z, Pam N, Hamblin MR. Low-lever laser (light) therapy
(LLLT) in skin: Stimulating, healing, restoring. Semin Cutan Med Surg. 2013;32(1):41–52.
68. Sarangal R, Yadav S, Dogra S. Hair transplant for acne scars: An innovative approach. J Cosmet
Dermatol. 2012;11(2):158–61.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét