PEEL NÔNG (PHẦN 2)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Đọc thêm: PEEL NÔNG (PHẦN 1)
Thủ thuật peel da
Liệu trình điều trị
Khi dùng bất kì hóa chất peel nào, thì liệu trình điều trị sẹo trứng cá đòi hỏi phải thực hiện từ 4 đến 7 lần điều trị với khoảng cách giữa các lần điều trị là 30-40 ngày. Việc lựa chọn hóa chất để peel nông tùy thuộc vào loại sẹo, phân loại da, và độ dày của da. Những yếu tố này bị ảnh hưởng bởi kem bôi điều trị trước đó và các yếu tố môi trường, ví dụ như thời tiết lạnh sẽ làm tăng khả năng xâm nhập vào da của hóa chất peel.
Bệnh sử
Điều quan trọng và cần thiết là phải lấy toàn bộ tiền sử bệnh nhân trước khi tiến hành thủ thuật peel nông để phát hiện các yếu tố có thể làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Những thông tin quan trọng cần được khai thác bao gồm khả năng lành vết thương và xu hướng hình thành sẹo. Trứng cá đỏ (rosacea), viêm da tiết bã hoặc viêm da cơ địa, và vảy nến là những bệnh lí da có thể làm tăng nguy cơ mắc biến chứng sau thủ thuật. Ngoài ra cần hỏi về tiền sử phẫu thuật và thực hiện các thủ thuật tái tạo bề mặt da trước đó [14].Trước điều trị
Từ 2 đến 3 tuần trước thủ thuật peel hóa chất nông, có một vài sự chuẩn bị tiền peel cần được thực hiện. Những bước chuẩn bị này là cần thiết để giúp hóa chất peel có thể xâm nhập một cách đồng nhất, rút ngắn thời gian hồi phục, hạn chế biến chứng tăng sắc tố sau viêm (PIH), và để xác định mức độ dung nạp của mỗi người đối với hóa chất peel. Những chất được sử dụng để chuẩn bị da trước peel gồm retinoic acid (5%), SA (1%-2%), PA (2%-3%), glycolic acid (8%-12%), hydroquinone (2%), ko- jic acid với glycolic acid (5%-10%), và dung dịch Kligman điều chỉnh [3]. Hầu hết các sản phẩm bôi này nên được bôi 3 lần mỗi tuần trong vòng 1 tháng, và nên ngưng 4 ngày trước khi peel nông để tránh sự xâm nhập quá mức của hóa chất peel [3,4]. Đối với những bệnh nhân có phân loại da tối màu, có thể áp dụng điều trị hỗ trợ bằng hydroquinone để làm giảm nguy cơ tăng sắc tố sau viêm [4,14]. Những bệnh nhân có tiền sử tái phát herpes có thể điều trị dự phòng bằng kháng virus đường uống (ví dụ: acy- clovir) bắt đầu 2 ngày trước khi làm thủ thuật và kéo dài từ 7-10 ngày sau thủ thuật do nguy cơ tái phát nặng hơn đã được ghi nhận khi peel ở những bệnh nhân này.Lấy phiếu đồng thuận
Trước khi tiến hành thủ thuật, nên đưa cho bệnh nhân một phiếu đồng thuận ghi đầy đủ chi tiết các thông tin để họ có thể hiểu được quy trình thủ thuật và kết quả có thể đạt được. Ngoài ra đây cũng là bước để bệnh nhân có thể đặt ra những câu hỏi mà họ thắc mắc cũng như bày tỏ những mối lo ngại của mình. Điều quan trọng là phải luôn ghi ra giấy những thông tin về thủ thuật (bảng 4.1). Để tránh làm thất vọng hoặc phá vỡ kì vọng của bệnh nhân, cần phải giải thích với bệnh nhân rằng peel nông có thể giúp cải thiện nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn sẹo trứng cá [5].Chụp ảnh
Lựa chọn hóa chất, nồng độ và công thức
Khi lựa chọn hóa chất peel, điều quan trọng là phải thiết kế liệu trình peel phù hợp với nhu cầu của mỗi bệnh nhân [14]. Những hóa chất được sử dụng phổ biến nhất trong peel nông là glycolic acid, TCA và JS. Nồng độ hóa chất tùy thuộc vào phân loại da và độ dày da, loại sẹo, và vị trí được điều trị, ví dụ như vùng quanh miệng và vùng quanh mắt đòi hỏi phải sử dụng hóa chất có nồng độ thấp hơn hoặc áp lực bôi khi peel phải nhẹ hơn.
Đề xuất lựa chọn hóa chất peel như sau:
- Trichloroacetic acid: sẹo boxcar, đặc biệt là ở những bệnh nhân không có các tổn thương mụn trứng cá hoạt động.
- Glycolic acid: sẹo dạng dát, đặc biệt là ở những bệnh nhân không có các tổn thương mụn trứng cá hoạt động.
- Pyruvic acid: tổn thương mụn hoạt động, tổn thương dạng dạt, và/hoặc sẹo boxcar rất nông.
- Salicylic acid: tổn thương mụn hoạt động và/hoặc sẹo dạng dát.
- Dung dịch Jessner trước + trichloroacetic acid sau: tổn thương mụn hoạt động, sẹo boxcar rất nông, và/hoặc sẹo dạng dát.
- Nhìn chung, hầu hết hóa chất được sử dụng để peel nông đều có sẵn ở dạng dung dịch. Nhưng lựa chọn hóa chất có sẵn ở dạng gel hoặc miếng thấm được ưa chuộng hơn vì acid xâm nhập vào da chậm hơn và dễ kiểm soát hơn.
Khay peel da
Bôi hóa chất
Phương pháp bôi tùy thuộc vào dạng bào chế của hóa chất. Nếu ở dạng dung dịch lỏng thì tốt nhất sử dụng bàn chải dạng rẻ quạt để bôi, còn nếu hóa chất ở dạng gel thì nên dùng tăm bông hoặc ngón tay mang găng.
Thời gian tiếp xúc với da mặt khác nhau tùy vào hóa chất peel được sử dụng và độ sâu peel mong muốn [4].
Nên bắt đầu bôi hóa chất ở vùng da dày trước. Thông thường vùng trán sẽ được bôi đầu tiên, bôi từ bên này sang bên kia từ 2 đến 3 lần và sau đó lặp lại thủ thuật tương tự ở vùng má, mũi và cằm. Vùng quanh ổ mắt và quanh miệng nên được bôi sau cùng. Các nếp nhăn thường được căng ra để cho phép acid có thể thấm vào được các rảnh. Để peel đạt sự đồng nhất, cần bôi lặp lại ở những vùng không xuất hiện đỏ da hoặc frosting (lớp màu trắng). Để đạt kết quả tốt nhất, cần phải bôi với áp lực đè mạnh lên vùng da quanh sẹo trong quá trình điều trị để làm tăng khả năng thấm của hóa chất vào vùng da xung quanh sẹo. Thủ thuật này sẽ giúp nâng sẹo lõm lên. Đối với những sẹo boxcar sâu thì điều quan trọng là phải dùng đầu tăm bông đè mạnh lên vùng trung tâm của sẹo [9]. Sau khi bôi, hóa chất có thể rửa sạch hoặc được trung hòa bằng nước hoặc dung dịch sodium bicarbonate [4]. Để giảm viêm sau peel, nhiều bác sĩ chỉ định bôi steroid nhẹ hoặc kem dưỡng ẩm sau khi rửa sạch hóa chất với nước lạnh. Cũng có thể sử dụng một cây quạt cầm tay để làm giảm khó chịu cho bệnh nhân ở bất kì giai đoạn nào của quá trình điều trị [3].
Thực hành bôi các hóa chất peel cụ thể
- Peel bằng trichloroacetic acid: bôi TCA ở dạng dung dịch hoặc gel cho đến khi xuất hiện lớp frosting. Sử dụng nước lạnh để trung hòa sau peel [9,16,17] (hình 4.71-c).
- Glycolic acid: bôi dung dịch hoặc gel glycolic acid và lưu trên da từ 2-3 phút cho đến khi thấy đỏ da đồng điều. Sau đó trung hòa bằng dung dịch sodium carbonate 10%. Tránh để lâu đến giai đoạn frosting vì có thể gây biến chứng sau peel [11].
- Pyruvic acid: bôi dung dịch hoặc gel PA và lưu trên da từ 3-4 phút (hoặc cho đến khi xuất hiện lớp frosting đối với điều trị sẹo boxcar). Sử dụng dung dịch sodium carbonate để trung hòa hóa chất peel [18,19].
- Salicylic acid: bôi SA và lưu trên da từ 2-3 phút cho đến khi dung môi alcohol bay hơi hết. Loại bỏ lớp bột tinh thể SA còn lại ở vùng điều trị bằng kem dưỡng ẩm. Cách này giúp làm tăng khả năng thấm của SA vào da [20].
- Peel phối hợp salicylic acid với trichloroacetic acid: bôi dung dịch SA đầu tiên, và lưu trên da khoảng 2-3 phút cho đến khi dung môi alcohol bay hơi hết. Loại bỏ lớp bột tinh thể SA còn lại ở vùng điều trị bằng kem dưỡng ẩm. Tiếp theo bôi dung dịch hoặc gel cho đến khi xuất hiện lớp frost. Mức độ frosting tốt nhất có màu trắng hồng đối với sẹo dạng dát và trắng xám đối với các loại sẹo khác. Sử dụng nước lạnh để trung hòa sau peel (hình 4.8a, b).
- Phối hợp dung dịch Jesner với trichloroacetic acid: bôi dung dịch JS trước và sau đó tiến hành tương tự như trong peel phối hợp salicylic acid với trichloroacetic acid vậy [21,22] (hình 4.9a,b)
Chăm sóc ngay sau khi peel
Bệnh nhân nên được căn dặn là phải bôi kem dưỡng ẩm từ 3 đến 4 lần mỗi ngày trong khoảng thời gian ngay sau peel. Điều quan trọng nhất là phải dặn bệnh nhân tránh nắng và sử dụng chống nắng trong thời gian điều trị và cho đến 6 tháng sau lần peel cuối cùng. Tuyệt đối không được cào gãi hoặc gỡ vảy mài vì có thể làm đỏ da kéo dài hơn và có thể làm sắc tố da trở nên không đồng nhất. Có thể rửa bằng nước rửa mặt nhẹ, nhưng không được chà khi rửa. Trong trường hợp đỏ da nặng, có thể sử dụng steroid nhẹ bôi từ 2-3 ngày.
Sau 7-10 ngày, khi quá trình tái tạo thượng bì hoàn tất, bệnh nhân có thể quay trở lại bôi các sản phẩm bôi chứa 1%-2% SA, 2%-3% PA hoặc retinoic acid 0.05% và hydroquinone bôi 4% để chuẩn bị da cho lần làm thủ thuật peel tiếp theo. Peel nông đòi hỏi phải làm từ 4 đến 6 lần với khoảng cách giữa các lần từ 2-4 tuần [4]. Những bệnh nhân đang có các tổn thương mụn hoạt động có thể bôi mỡ kháng sinh và/hoặc benzoyl peroxide.
Các điểm mấu chốt khi chăm sóc sau peel
- Bệnh nhân có thể than bỏng rát trong một vài giây khi bắt đầu thủ
- thuật.
- Xuất hiện đỏ da đồng nhất là chỉ điểm lâm sàng cho thấy hóa chất
- đã xâm nhập vào thượng bì.
- Sự xuất hiện lớp frost trắng là chỉ điểm lâm sàng cho thấy có hoại tử đông của lớp bì nhú.
- Sự xuất hiện lớp frost màu xám-trắng chỉ điểm lâm sàng cho thấy sự hoại tử đông của lớp bì lưới.
- Bệnh nhân sẽ xuất hiện đỏ da và phù trong khoảng 1 tiếng sau thủ thuật.
- Bong da thường xuất hiện 3-4 ngày sau peel.
Tác dụng phụ và biến chứng
Tác dụng phụ nhẹ
Peel nông có thể tạm thời làm nặng hơn các sang thương sẩn mụn mủ. Một vài bệnh nhân thậm chí có thể phát triển thành mụn sẩn viêm và mụn mủ ngay trong khoảng thời gian sau peel. Những bệnh nhân này có thể tiến hành điều trị với kháng sinh hệ thống như trong điều trị mụn trứng cá hoạt động [22,23]. Cần lưu ý là có thể có sự nặng lên của các bệnh lí sẵn có như mụn cóc, viêm da dầu hoặc viêm da cơ địa và vảy nến [3].
Biến chứng
Các biến chứng vĩnh viễn gồm tổn thương giác mạc, sẹo teo hoặc sẹo phì đại, tăng sắc tố hoặc mất sắc tố dạng đốm hoặc lan rộng, và sự hình thành các mảng, vùng da khác tone màu. Sẹo teo (lõm) có thể được điều trị bằng filler, trong khi đó sẹo phì đại có thể xử lí bằng tiêm steroid và băng silicone. Các thay đổi sắc tố có thể được điều trị bằng các chất làm trắng. Đối với những bệnh nhân sắc tố da không đồng nhất, có thể tiến hành peel một vài lần với PA 40% hoặc retinoic acid 5% cũng có thể có hiệu quả.
Bệnh nhân cần phải nghe theo sự hướng dẫn của bác sĩ để tránh tự tạo ra các biến chứng. Những hành vi không thủ thường thấy ở bệnh nhân đó là không sử dụng chống nắng hoặc lột, gỡ vảy hoặc mài với niềm tin là hành động này có thể làm da nhanh lành hơn.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét