LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

VI MÀI DA VÀ MÀI DA (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: Vi mài da và mài da (Phần 2)

GHI NHỚ

  • Mài da và vi mài da có thể sử dụng đơn lẻ hoặc phối hợp với các phương pháp khác để điều trị sẹo trứng cá.
  • Tái tạo cơ học bề mặt da là thủ thuật sử dụng dụng cụ mài cầm tay để loại bỏ lớp thượng bì, từ đó kích thích quá trình lành vết thương và quá trình tái tổ chức collagen để cải thiện sẹo trứng cá.
  • Mài da (dermabrasion) là một thủ thuật có kĩ thuật khó và xâm lấn hơn, thủ thuật này được thực hiện bằng cách loại bỏ da đến lớp bì nhú, phương pháp này rất hiệu quả nhưng mang nhiều nguy cơ biến chứng.
  • Vi mài da (microdermabrasion) là kĩ thuật ít xâm lấn hơn, chỉ mài da đến lớp thượng bì nông và có thể giúp cải thiện tình trạng sẹo nông, đặc biệt là khi phối hợp với truyền dịch đồng thời. Hầu hết các bệnh nhân bị sẹo trứng cá cần phải điều trị nhiều lần và phối hợp với các phương pháp khác như peel hóa học và laser.

Giới thiệu

Tái tạo bề mặt cơ học gồm có thủ thuật microdermabrasion (vi mài da) và dermabrasion (mài da), được tiến hành bằng cách sử dụng một dụng cụ mài cầm tay để loại bỏ các lớp của thượng bì. Quá trình lột da vật lí này sẽ gây tổn thương da, sau đó sẽ khởi phát các giai đoạn của quá trình lành vết thương. Nhờ quá trình mài sẹo lõm hoặc sẹo phì đại và gây viêm, tái tạo thượng bì, tạo mô xơ, và tái tổ chức collagen mà bề mặt sẹo trứng cá có thể được cải thiện. Dermabrasion là một thủ thuật có kĩ thuật khó và xâm lấn hơn, thủ thuật này được thực hiện bằng cách loại bỏ da đến lớp bì nhú. Microdermabrasion là kĩ thuật ít xâm lấn hơn, chỉ mài da đến lớp thượng bì nông.

Dermabrasion

Lịch sử

Sự quan tâm của con người đối với các thủ thuật tái tạo bề mặt da đã tồn tại trang hàng thế kỉ và những kĩ thuật này đã trải qua nhiều sự tiến bộ và nhiều lần điều chỉnh. Khoảng 1500 năm trước công nguyên, các thầy thuốc Ai Cập cổ đại đã sử dụng giấy nhám để làm phẳng sẹo và tắm bằng sữa chua để làm trơn láng da khô và thô ráp [1-3]. Năm 1905, Dr. Kromayer, một bác sĩ da liễu người Đức, đã công bố bài báo đầu tiên mô tả phương pháp sử dụng dụng cụ để làm phẳng da giúp cải thiện bề mặt của sẹo [4]. Ông đã mô tả rằng trước khi điều trị da sẽ được gây tê tại chỗ và sử dụng “tuyết” carbon dioxide để làm bề mặt da trương phồng hơn tạo thuận lợi cho quá trình làm thủ thuật. Ông đã sử dụng đầu mài thép cầm tay có thể xoay được để làm trơn láng những nốt sẹo nhỏ và các sẹo do chấn thương khác [4,5]. Kĩ thuật này đã được mở rộng ứng dụng bởi Dr. Iverson, một bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Hoa Kỳ, vào năm 1947 khi ông đã báo cáo về sự thành công khi loại bỏ traumatic tattoo (chấn thương do xăm) trên mặt bằng cách sử dụng giấy nhám (được sử dụng bởi các thợ mộc) quấn quanh một miến gạc [6]. Vào năm 1948, Dr. McEvitt đã mô tả sự cải thiện bề mặt sẹo trứng cá rõ rệt khi sử dụng kĩ thuật mài da cơ học [7]. Tuy nhiên, chính Dr. Kurtin là một bác sĩ da liễu ở New York City đã đổi mới và hiện đại hóa kĩ thuật dermabrasion từ năm 1953 [8]. Dr. Kurtin và Noel Robbins đã phối hợp để chỉnh sửa một thiết bị dùng trong răng hàm mặt để sử dụng cho kĩ thuật dermabrasion [1,8]. Phương pháp của Dr. Kurtin đó là chuẩn bị trước thủ thuật với ethyl chloride (chất gây tê và làm da cứng hơn) sau đó mài da bằng bàn chải thép xoay (motorized steel brush) [8]. Robbins sau đó đã chế tạo ra diamond fraise (đầu mài kim cương) là thiết bị ngày nay chúng ta vẫn dùng [1]. Hình 6.1 mô tả một vài đầu mài thường được sử dụng.

HÌNH 6.1 Các loại đầu mài thường được sử dụng. Từ trái qua phải: đầu mài bàn chải ( wire brush), đầu mài kim cương, đầu mài kim cương hình nón (hình ảnh được sự cho phép của CB, Thiele JJ. Trong: Acne Scar. Tosti A, De Padova MP, Beer K, eds. London: Informa, 2009)

Năm 1956, Dr. Burks, một bác sĩ da liễu người Mỹ khác, đã công bố bài báo có tựa đề Wire Brush Surgery, bài báo này đã mô tả kĩ thuật mới của ông trong sử dụng bàn chải sắt (wire brush) để điều trị nhiều bệnh khác nhau gồm nếp nhăn, đốm nâu, sẹo lồi do mụn trứng cá và sẹo trứng cá [9] (hình 6.2). Sau đó vào năm 1957, ông đã công bố một nghiên cứu về đánh giá quá trình lành vết thương sau thủ thuật dermabrasion trên gần 1500 bệnh nhân được điều trị tại Trung tâm Y khoa Tulane, New Or- leans [10]. Một chuỗi các lần sinh thiết đã cho thấy có quá trình tái tạo thượng bì từ các cấu trúc phụ và sự tái tổ chức mô liên kết [10]. Ông sau đó cũng đã báo cáo về việc sử dụng microdermabrasion để điều trị các tổn thương do ánh sáng [9,10]. Theo thời gian, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu về việc sử dụng và phân loại các chất sinh hàn, về ứng dụng của dermabrasion trong điều trị sẹo cho đến traumatic tattoo (chấn thương khi xăm), về điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus ở bệnh nhân có tiền sử herpes môi, điều trị trước thủ thuật với kem bôi retinoid, và sự lưu ý khi thực hiện thủ thuật trên đối tượng có sử dụng isotretinoin đường uống gần đây [1]. Cho đến thời điểm này, dermabrasion đã được ứng dụng để cải thiện bề mặt của các sẹo đã trưởng thành (xuất hiện từ 6-12 tháng từ lúc sẹo hình thành). Tuy nhiên, vào năm 1988, Dr. Yarbor- ough đã đề xuất áp dụng mài da trong điều trị sẹo ở giai đoạn sớm sau chấn thương [11,12]. Bằng cách thực hiện dermabrasion sớm và trong giai đoạn đang hình thành sẹo, ông thấy rằng sẹo có thể gần như hoàn toàn được loại bỏ [12].

HÌNH 6.2 Hình mô tả kĩ thuật dermabrasion bằng cách sử dụng đầu bàn chải. Dụng cụ này di chuyển theo cách đánh vuông góc theo hướng quay của bàn chải. Gắn đầu bàn chải: gắn bàn chải quay ngược chiều kim đồng hồ để mài da mạnh hơn, và gắn bàn chải quay thuận chiều kim đồng hồ để mài da nhẹ hơn (hình ảnh được sự cho phép của CB, Thiele JJ. Trong: Acne Scar. Tosti A, De Padova MP, Beer K, eds. London: Informa, 2009)

Sinh bệnh học

Dermabrasion thủ thuật loại bỏ lớp da bề mặt cho đến khi thấy chảy máu, đây là dấu hiệu cho thấy đã gây tổn thương đến lớp bì nhú. Bằng cách loại bỏ hoàn toàn lớp thượng bì, vết thương mới được tạo ra và cho phép quá trình liền vết thương thứ cấp diễn ra sau đó. Các tế bào tăng sinh từ đáy vết thương và phát triển lên trên, hoặc tăng sinh từ các thành bên vào trong, trong đó các cấu trúc phụ của da trở thành nguồn cung cấp tế bào chính giúp tái sinh các tế bào da trong giai đoạn tái tạo thượng bì. Do đó, điều quan trọng khi tiến hành thủ thuật là không được mài sâu hơn lớp bì nhú.

Bằng cách tạo ra vết thương và khởi phát 3 giai đoạn của quá trình liền vết thương (viêm, tăng sinh và tái tổ chức), da sẽ được tái tạo mới
với mục tiêu cuối cùng là giúp cải thiện cấu trúc và màu sắc da [3]. Trong giai đoạn viêm, tiểu cầu và các phân tử chất nền ngoại bào hình thành khối fibrin, sau đó tiết ra các chất hóa hướng động thu hút bạch cầu trung tính đến vết thương [13]. Bạch cầu đến gắn vào giường vết thương, tiết ra các cytokines tiền viêm và các yếu tố tăng trưởng mạch máu để hấp dẫn các tế bào tăng sinh như nguyên bào sợi (fibroblast) và tế bào nội mô (endothe- lial cells) đến vị trí vết thương [13]. Ngoài ra, trong giai đoạn sớm của quá trình lành vết thương, các tế bào sừng (keratinocyte) tại rìa vết thương sẽ mất tính kết dính để tạo thuận lợi cho các tế bào này di cư đến giường vết thương [13]. Sự tăng sinh của các tế bào sừng được kích thích bởi sự quá trình tiết ra yếu tố tăng trưởng tế bào sừng và yếu tố tăng trưởng tế bào gan từ lớp thượng bì và lớp bì [13]. Trong giai đoạn tăng sinh, các đại thực bào và các nguyên bào sợi được hoạt hoá sẽ bao phủ và tạo ra mô hạt [13]. Sự hiện diện của đại thực bào và tế bào bạch cầu đa nhân trung tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chống nhiễm trùng tại vị trí vết thương [13]. Trong giai đoạn tái tổ chức (giai đoạn cuối), yếu tố tăng trưởng TGF-β kích thích nguyên bào sợi chuyển hóa thành các nguyên bào sợi cơ [3,13]. Nguyên bào sợi cơ sẽ sản xuất ra collagen type I và III trong vài tuần đến vài tháng, mô hạt sẽ được chuyển thành mô sẹo, quá trình viêm giảm dần, và các cấu trúc mạnh máu thoái triển dần [14,15].

Ở mức độ mô học, dermabrasion đã được chứng minh là làm tăng mật độ các bó collagen, làm tăng số lượng collagen type I và III, thúc đẩy sự sắp xếp collagen theo hướng song song với thượng bì, đồng nhất hóa và sắp xếp lại các sợi elastin. Những thay đổi này giải thích cho sự cải thiện về cấu trúc, độ sắc chắc của da sau khi thực hiện thủ thuật dermabrasion [14,15].

Chỉ định

Mặc dù các phương pháp tái tạo bề mặt da bằng laser và peel hóa chất ngày càng phổ biến, nhưng dermabrasion vẫn là phương pháp điều trị sẹo trứng cá hiệu quả nhất. Cả sẹo lõm và sẹo phì đại đều có thể được điều trị một cách hiệu quả (hình 6.3). Đối với sẹo lõm, vùng bề mặt lõm và vùng da xung quanh sẽ được mài để làm mờ và trơn láng da, tạo cấu trúc da đồng nhất hơn [16]. Đối với sẹo phì đại, phần mô sẹo tăng sinh quá mức sẽ được mài để tái tạo lại mặt phẳng. Sẹo ice pick và boxcar tỏ ra có hiệu quả hơn so với sẹo rolling khi điều trị bằng dermabrasion [3,14]. Sẹo rolling dài, rộng, bờ mờ, và nhấp nhô do mô sẹo bị các bó xơ kéo từ lớp bì xuống lớp mô dưới da [3]. Sẹo rolling có thể được điều trị tốt hơn bằng cách sử dụng liệu pháp phối hợp giữa cắt đáy sẹo hoặc cắt sẹo bằng dụng cụ bấm với dermabrasion (tiến hành sau). Sẹo phẫu thuật hoặc sẹo chấn thương, bỏng, tattoo không đáp ứng với laser, bệnh mũi sư tử, nếp nhăn, tăng sản lành tính các cấu trúc phụ, đốm nâu và các tổn thương ánh sáng cũng có thể được điều trị bằng dermabrasion [17].

Theo Yarborough và các đồng nghiệp của ông thì sẹo phẫu thuật nên được điều trị trong thời gian 6-8 tuần sau phẫu thuật [11,12]. Nhiều nghiên cứu cũng đã ủng hộ quan điểm trên, đặc biệt là khi điều trị sẹo sau phẫu thuật Mohs [18]. Một nghiên cứu mẫu hai nữa sẹo đã cho thấy hiệu quả điều trị tốt nhất khi sẹo phẫu thuật được điều trị vào tuần thứ 8 sau phẫu thuật [19]. Emsen đã phát hiện ra điều thú vị rằng quá trình điều trị bỏng bằng mài da thủ công nên được thực hiện sớm ngay sau tổn thương bỏng và đã có báo cáo cho thấy kết quả ấn tượng của một trường hợp tiến hành mài da trên mặt của một đứa trẻ ngay sau khi bị bỏng nông mức độ hai và bỏng sâu một phần [20]. Do đó, thời gian thực hiện mài da điều trị sẹo rất khác nhau tùy vào nguy nhân, đối với sẹo phẫu thuật, điều trị trong khoảng thời gian 6-8 tuần sau phẫu thuật cho kết quả ấn tượng và đối với bỏng cần tiến hành càng sớm càng tốt.

Tài liệu tham khảo

1. Lawrence N, Mandy S, Yarborough J. History of dermabrasion. Dermatol Surg. 2000;26(2):95–101.

2. Small R, Quema R. Microdermabrasion. In: Dermatologic and Cosmetic Procedures in Office Practice.

Usatine RP, ed. Saunders, Philadelphia, PA. 2012, 274–85.

3. Harmon C, Thiele J. Dermabrasion for acne scars. In: Acne Scars: Classification and Treatment. Tosti

A, De Padova MP, Beer K, eds. Boca Raton, FL: CRC Press, 2010, 42–8.

4. Kromayer E. Rotation instruments: A new technical procedure in dermatological small surgery. Dermatol

Z. 1905;12:26.

5. Kromayer E. Cosmetic Treatment of Skin Complaints. New York: Oxford University Press, 1930.

(English translation of the second German edition, 1929).

6. Iverson P. Surgical removal of traumatic tattoos of the face. Plast Reconstr Surg. 1947;2427–32.

FIGURE 6.6 Results of microdermabrasion with solution infusion. Improvement in the appearance of acne scarring and

post-inammatory hyperpigmentation after multiple treatments with microdermabrasion and Dermalinfusion using the

SilkPeel device. (Photographs courtesy of Envy Medical.)


52 Acne Scars

7. McEvitt, WG. Treatment of acne pits by abrasion with sandpaper. JAMA. 1950;142:647–8.

8. Kurtin A. Corrective surgical planing of the skin. Arch Dermatol Syphil. 1953;68:389.

9. Burks J. Wirebrush Surgery. Springeld, IL: Charles C Thomas, 1955.

10. Burks J. Abrasive removal of scars. South Med J. 1955;48:452–9.

11. Yarborough J, Beeson WD, Beeson W, McCullough E. Aesthetic Surgery of the Aging Face. St Louis,

Mo.: CV Mosby Co., 1986, 142–81.

12. Yarborough J. Ablation of facial scars by programmed dermabrasion. J Dermatol Surg Oncol. 1988; 33:

14292–4.

13. Eming S. Biology of wound healing. In: Dermatology. 3rd ed. Bolognia JL, Jorizzo JL, Schaffer JV, eds.

Elzevier, Philadelphia, PA. 2012, 2313–25.

14. Harmon C, Zelickson B, Roenigk R et al. Dermabrasive scar revision: Immunohistochemical and

ultrastructural evaluation. Dermatol Surg. 1995;21503–8.

15. El-Domyati M, Attia S, Saleh F. Trichloracetic acid peeling versus dermabrasion: A histometric,

immunohistochemical, and ultrastructural comparison. Dermatol Surg. 2004;30(2):179–88.

16. Monheit G, Chastain M. Chemical and mechanical skin resurfacing. In: Dermatology. 3rd ed. Bolognia

JL, Jorizzo JL, Schaffer JV, eds. Elzevier, Philadelphia, PA. 2012, 2493–508.

17. Fulton J. Dermabrasion, chemabrasion, and laserabrasion: Historical perspectives, modern dermabrasion

techniques, and future trends. Dermatol Surg. 1996;22(7):619–28.

18. Zisser M, Kaplan B, Moy R. Surgical pearl: Manual dermabrasion. JAAD. 1995;33(1):105–6.

19. Katz B, Oca A. A controlled study of the effectiveness of spot dermabrasion (“scarabrasion”) on the

appearance of surgical scars. J Am Acad Dermatol. 1991;24:462–6.


20. Emsen I. Effect of dermasanding (manual dermabrasion) with sandpaper on appearance of both post-

surgical and burn scars. Aes Plast Surg. 2007;31(5):608–11.


21. Emsen I. A different and cheap method: Sandpaper (manual dermasanding) in treatment of periorbital

wrinkles. J Craniofac Surg. 2008;19(3):812–6.

22. Zaimi I, Romanzi A, Gherardini G. Tricks and tips for manual dermabrasion. Dermatol Surg.

2016;42(12):1393–4.

23. Landau M. Commentary on tricks and tips for manual dermabrasion. Dermatol Surg. 2016;42(12):1395.

24. Kidwell W, Apprey C, Messingham M. A comparison of histologic effectiveness and ultrastructural

properties of the electrocautery scratch pad to sandpaper for manual dermabrasion. Dermatol Surg.

2008;34(9):1194–9.

25. Pavlidis L, Spyropolou G-A. A simple technique to perform manual dermabrasion with sandpaper.

Dermatol Surg. 2012;38(12):2016–7.

26. Wilson J, Ayres S, Luikart R. Mixtures of uorinated hydrocarbons as refridgerated aesthetic. Arch

Dermatol. 1956;74:310–11.

27. Christophel J, Elm C, Edrizzi B. A randomized controlled trial of fractional laser therapy and

dermabrasion for scar resurfacing. Dermatol Surg. 2012;38(4):595–602.

28. Poulos E, Taylor C, Solish N. Effectiveness of dermasanding on appearance of surgical scars: A

prospective randomized blinded study. Derm Surg. 2002;48(6):897–900.

29. Gillard M, Wang T, Boyd C. Conventional diamond fraise versus manual spot dermabrasion with drywall

sanding screen for scars from skin cancer surgery. Arch Dermatol. 2002;138(8):1035–9.

30. Nahm W, Rotunda A, Han K, Schmidt A, Moy R. Microdermabrasion for treatment of photoaging. In:

Photoaging. Rigel D, Weiss R, Lim H, Dover J, eds. New York: Marcel Dekker, 2004, 95–110.

31. El-Domyati M, Hosam W, Abdel-Azim E, Abdel-Wahab H, Mohamed E. Microdermabrasion: A clinical,

histometric, and histopathologic study. J Cosmet Dermatol. 2016;15(4):503–13.

32. Karimipour D, Kang S, Johnson T et al. Microdermabrasion: A molecular analysis following a single

treatment. J Am Acad Dermatol. 2005;52:215–23.

33. Karimipour D, Karimipour G, Orringer J. Microdermabrasion: An evidence-based review. Plast Reconstr

Surg. 2010;125(1):372–7.

34. Kirkland E, Hantash B. Microdermabrasion: Molecular mechanisms unraveled, part 1. J Drugs Dermatol.

2012;11(9):e2–9.

35. Kirkland E, Hantash B. Microdermabrasion: Molecular mechanisms unraveled, part 2. J Drugs Dermatol.

2012;11(9):e10–17.

36. Tsai R, Wang C, Chan H. Aluminum oxide crystal microdermabrasion: A new technique for treating

facial scarring. Dermatol Surg. 1995;21:539–42.


Microdermabrasion and Dermabrasion 53

37. Shim E, Barnette D, Hughes K, Greenway H. Microdermabrasion: A clinical and histopathologic study.

Dermatol Surg. 2001;27:524–30.

38. Hernandez-Perez E, Ibiett E. Gross and microscopic ndings in patients undergoing microdermabrasion

for facial rejuvenation. Dermatol Surg. 2001;27(7):637–40.

39. Tan M, Spencer J, Pires LM, Amjeri J, Skover G. The evaluation of aluminum oxide cystal

microdermabrasion for photodamage. Dermatol Surg. 2001;28:745–50.

40. Faghihi G, Fatemi-Tabaei S, Abtahi-Naeini B et al. The effectiveness of a 5% retinoic acid peel combined

with microdermabrasion for facial photoaging: A randomized, double-blind, placebo-controlled clinical

trial. Dermatol Res Pract. 2017;2017:8516527.

41. Abdel-Motaleb A, Abu-Dief E, Hussein M. Dermal morphological changes following salicylic acid

peeling and microdermabrasion. J Cosmet Dermatol. 2017, 16(4):e9-e14.

42. Bhatia A, Hsu J, Hantash B. Combined topical delivery and dermalinfusion of decapeptide-12 accelerates

resolution of post-inammatory hyperpigmentation in skin of color. J Drugs Dermatol. 2014;13(1):84–5.

43. Lee S, Choi M, Zheng Z, Chung W, Kim Y, Cho S. Combination of 595-nm pulsed dye laser, long-pulsed

755-nm alexandrite laser, and microdermabrasion treatment for keratosis pilaris: Retrospective analysis

of 26 Korean patients. J Cosmet Laser Ther. 2013;15(3):150–4.

44. Harmon CB, Thiele JJ. Dermabrasion for acne scars. In: Acne Scars. Tosti A, De Padova MP, Beer K, eds.

London: Informa, 2009.


Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét