LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

 VI MÀI DA VÀ MÀI DA (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: Vi mài da và mài da (Phần 1)

Lựa chọn bệnh nhân và những cân nhắc trước phẫu thuật

Trước khi tiến hành dermabrasion, cần phải xem xét ở một mức độ nhất định để có thể đạt hiệu quả điều trị tốt nhất và thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân và người thực hiện thủ thuật. Trong lần tư vấn đầu tiên, bác sĩ phải giải thích rõ ràng và chi tiết về quy trình thủ thuật cũng như vấn đề chăm sóc đặc biệt sau thủ thuật. Nếu bệnh nhân có tiền sử kém tuân thủ y lệnh, không tái khám đúng hẹn, hoặc kém thực hành chống nắng thì không nên tiến hành thủ thuật mài da.

Không nên thực hiện dermabrasion ở những bệnh nhân có tiền sử có các vấn đề sau: rối loạn sắc tố, sẹo lồi, rối loạn chảy máu, bệnh da có hiện tượng Koebner, mụn trứng cá hoặc trứng cá đỏ hoạt động, hoặc tiền sử dùng isotretinoin trong vòng 6-12 tháng gần đây. Hết sức lưu ý và cân nhắc việc áp dụng dermabrasion ở những bệnh nhân có tiền sử bị ức chế miễn dịch hoặc bệnh mạn tính vì dễ đưa đến nhiễm trùng và chậm lành vết thương. Trong những trường hợp này, việc đưa ra quyết định thực hiện phải tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu đang có nhiễm trùng hoặc vết thương hở tại vùng cần điều trị thì nên trì hoãn thủ thuật lại. Lặp lại thủ thuật ở vùng đã mài da cũ không nên tiến hành dưới 12 tháng sau lần điều trị trước đó [3, 16].

HÌNH 6.3 Mài da điều trị sẹo trứng cá (a-e). sẹo trứng cá nặng ở một người đàn ông Mỹ gốc Phi trước (a), ngay sau khi tiến hành dermabrasion (b) và 4 tuần sau dermabrasion (c). Sẹo trứng cá trung bình nặng ở một phụ nữ da trắng trước khi dermabrasion (d) và 12 tuần sau khi dermabrasion (e). (ảnh được sự cho phép của Harmon CB, Thiele JJ. In: Acne Scars. Tosti A, De Padova MP, Beer K, eds. London: Informa, 2009 [44]).

Các bác sĩ có thể cân nhắc cho bệnh nhân dùng retinoid bôi trong 2-3 tuần trước khi điều trị để kích thích quá trình tăng sinh và đổi mới tế bào sừng. Nếu bệnh nhân có tiền sử herpes môi, có thể điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus đường uống từ 2-3 ngày trước khi mài da. Với những bệnh nhân lo lắng, căng thẳng có thể cho bệnh nhân uống hoặc tiêm thuốc an thần khi làm thủ thuật [3].

Dụng cụ và kĩ thuật

Mài da có thể được thực hiện thủ công hoặc bằng máy. Mài da thủ công bằng cách sử dụng giấy nhám đính silicon bị than hóa với nhiều mức độ nhám khác nhau để tái tạo bề mặt da. Giấy này có thể mua từ các cửa hàng ngũ kim và được vô trùng trong phòng khám, hoặc có thể mua giấy đã được vô trùng và đóng gói sẵn [21]. Một lựa chọn tiết kiệm chi phí khác đó là sử dụng tấm mài dao điện (tấm này được sử dụng trong phòng mổ được vô trùng) đã được vô trùng và đóng gói [22,23]. Độ nhám bề mặt của tấm mài dao điện nằm trong khoảng từ 100-60 (độ nhám –grit sand- paper- số lượng hạt nhỏ trên 1 inch vuông) [22,23]. Tuy nhiên, không có sự khác biệt về hiệu quả điều trị hoặc về khả năng tiếp cận đến độ sâu mô học lí tưởng khi sử dụng tấm mài dao điện so với giấy nhám [21, 24].

Bác sĩ có thể cầm giấy nhám hoặc tấm mài trực tiếp bằng tay hoặc quấn quanh một xi lanh hoặc quanh miếng gạc để dễ sử dụng hơn [23,35]. Giấy nhám hoặc tấm mài được làm ẩm bằng dung dịch salin trước khi mài lên da. Giấy nhám có nhiều độ nhám khác nhau: nhẹ (#400), trung bình (#220-320), hoặc thô ráp (coarse grade -#180) [16]. Giấy nhám thô ráp được làm từ các hạt lớn và phù hợp để mài những đường (pass) cơ bản đầu tiên lên da [16]. Giấy có độ nhám thấp hơn được làm từ các hạt nhỏ hơn và phù hợp để làm trơn láng sau các pass mạnh đã được thực hiện trước đó.

Có nhiều lợi ích khi mài da thủ công. Đầu tiên, kĩ thuật thủ công này được cho là có thể làm hòa hợp cấu trúc, đặc biệt là vùng quanh mắt và miệng [16,18,21]. Ngoài ra, các giọt máu nhỏ không bị bắn văng ra khi mài thủ công. Những vùng da nhạy cảm như vùng mí mắt, vùng bờ môi, và dái tai không thể bị kẹt trong thiết dụng cụ như khi sử dụng máy mài [16,18,21]. Cuối cùng, dụng cụ mài thủ công rẻ tiền, dễ sử dụng và dễ thực hiện, và không cần phải bảo trì vì chỉ sử dụng một lần rồi bỏ [16,18].

Mặc dù phương pháp mài da thủ công ngày càng phổ biến, nhưng sự phát triển của motor mài da là một cuộc cải tiến kĩ thuật cho phép tái tạo bề mặt da nhanh và ít dùng lực hơn trên diện tích lớn hơn. Quy trình này đòi hỏi cần phải có thiết bị motor và đầu típ mài gắn vào. Thiết bị mo- tor chạy điện thường được dùng phổ biến hơn cả đó là Bell Handengine (Bell International), máy cầm tay (hand engine) AEV-12 (Ellis Interna- tional), và Osada Surgical Handpiece (Osada, Inc). Đầu mài được dùng phổ biến nhất là diamond fraise (đầu mài kim cương) và đầu mài bàn chải dây thép. Diamond fraise là những trụ kim loại có trọng lượng và đường kính khác nhau được phủ bởi các mảnh vụn kim cương công nghiệp. Đầu mài bàn chải là những trụ được gắn các sợi kim loại mảnh cùng chiều xung quanh. Sử dụng đầu mài bàn chải được xem là phương pháp xâm lấn hơn, có thể mài da sâu hơn trong mỗi pass so với diamond fraise (đầu mài kim cương). Tuy nhiên, vì lí do này nên khi sử dụng đầu bàn chải cần phải cẩn thận để đảm bảo tạo ra vế thương đồng nhất và phù hợp [3,16].

Trong ngày tiến hành điều trị, bệnh nhân không nên trang điểm hoặc mang trang sức trên vùng định điều trị. Nên cho bệnh nhân nằm ngữa. Vùng da được điều trị phải được rửa sạch, và tẩy nhờn bằng cách sử dụng bông cồn để tẩy lớp dầu, phấn trang điểm hoặc kem chống nắng còn sót trên da. Cả bác sĩ lẫn bệnh nhân đều cần được mang dụng cụ bảo vệ mắt. Có thể tiến hành gây mê bằng cách block nhánh thần kinh, tiêm tê tại chỗ, hoặc kĩ thuật gây tê lạnh. Sau gây tê, nên tiến hành sát trùng bằng chlorhexidine, lưu ý đảm bảo tránh không tiếp xúc với mắt và tai. Cuối cùng, vùng điều trị sẽ được phủ bằng drape (khăn) vô trùng. Với kĩ thuật mài da sử dụng motor, có thể điều trị tiền thủ thuật bằng cách phun lạnh để bề mặt trở nên cứng, chắc tạo thuận lợi cho quá trình mài da [3,26].

Khi điều trị một vùng da nào đó, thì da vùng đó nên được căng ra giữa 2 ngón tay thuộc tay không thuận của người tiến hành thủ thuật. Tay thuận của người thực hiện sẽ giữ dụng cụ mài. Khi mài nên đưa đầu mài đến tiếp xúc nhẹ với da sau đó sau đó di chuyển tới lui hoặc di chuyển theo vòng tròn nhỏ trên vùng điều trị. Nếu sử dụng motor với đầu diamond fraise thì đầu mài nên được di chuyển theo hướng vuông góc với hướng xoay của đầu mài. Nếu sử dụng bàn chải kim loại, thì các sợi thép được gắn vào trục với một góc giống nhau và hướng về cùng một phía. Mức độ mài da sẽ nhẹ hơn nếu đầu bàn chải xoay thuận góc với các sợi thép. Cách di chuyển đầu bàn chải tương tự đầu diamond fraise đó là nên di chuyển đầu mài theo hướng vuông góc với hướng xoay của nó. Đối với tất các các dụng cụ mài, chỉ nên di chuyển đến khi thấy xuất hiện các điểm xuất huyết, vì đây là chỉ điểm lâm sàng chứng tỏ dụng cụ đã mài đến lớp bì nhú. Không nên tiếp tục mài trên vùng đã xuất huyết điểm để tránh làm mất các cấu trúc phụ và tránh để lại sẹo. Nếu nhìn thấy các sợi xơ có nghĩa là tổn thương đã đến lớp bì lưới. Trong khi làm thủ thuật, máu và các mảnh da nên được lau liên tục bằng khăn cotton ướt để giữ cho vùng mài luôn sạch và dễ quan sát. Khi sử dụng giấy nhám, nếu các hạt silicon than hóa rơi trên da thì phải lau sạch để tránh hình thành các vết đen như khi xăm mực. Khi điều trị ở vùng mặt thì nên tiến hành theo từng đơn vị thẩm mỹ và vùng giữa mặt nên được điều trị sau cùng [3].

Lưu ý sau thủ thuật

Sau khi mài da xong, nên lau nhẹ toàn bộ mặt bằng khăn cotton. Sau đó đắp gạc thấm lidocaine/epinephrine lên da để làm giảm cảm giác châm chích sau thủ thuật. Nếu có vùng chảy máu nhiều thì cần phải đè chặt trong ít nhất 10 phút. Tiếp theo, nên bôi dầu petrolatum lên vùng điều trị và đắp gạc bán thấm hoặc đắp mặt nạ toàn mặt. Trong 2-3 ngày đầu sau thủ thuật, bệnh nhân nên đến phòng khám kiểm tra hàng ngày và để thay gạc. Quá trình thay gạc có thể khá đau và có thể sẽ phải gây tê. Những lần đến kiểm tra đầu tiên là để theo dõi nhiễm trùng, thay gạc, thảo luận về cách chăm sóc vết thương, và đánh giá quá trình lành vết thương. 3-4 ngày sau thủ thuật, bệnh nhân có thể để hở vết thương ở nhà. Vùng da điều trị cần được ngâm trong dung dịch acetic acid từ 4-6 lần mỗi ngày và nếu cần có thể loại bỏ các mảnh vụn da bằng cách sử dụng tăm bông ẩm. Sử dụng dung dịch acetic acid vì chất này có tác dụng diệt khuẩn và loại bỏ mảnh vụn nhẹ. Sau mỗi lần ngâm acid, cần phải bôi mỡ lại và đắp lại loại gạc không gây bít tắc. Bệnh nhân cần được giải thích trước rằng đỏ và phù da có thể rất nặng trong vài giờ đến 1 ngày đầu sau thủ thuật mài da; có thể sử dụng thuốc kháng viêm NSAIDs hoặc túi đá để làm giảm sưng và giảm khó chịu. Khi da bắt đầu lành, bệnh nhân sẽ cảm thấy ngứa và nên được điều trị bằng kháng histamine để tránh trường hợp bệnh nhân cào gãi. Vào khoảng ngày thứ 7 sau thủ thuật, quá trình tái tạo thượng bì gần như hoàn tất và có thể chuyển từ bôi mỡ sang các sản phẩm dưỡng ẩm kèm chống nắng với chỉ số chống nắng SPF30+ hoặc chống nắng vật lý [3].

Cần thông tin cho bệnh nhân biết là đỏ da ở vùng điều trị có thể kéo dài từ 2-4 tháng vì quá trình tái tổ chức mô diễn ra trong khoảng thời gian này. Nếu xuất hiện vết chai cứng, xơ bất thường thì đây có thể là đấu hiệu hình thành sẹo phì đại. Tránh nắng cẩn thận trong 3-6 tháng sau mài da là rất cần thiết [3].

Biến chứng

Các biến chứng có thể của dermabrasion gồm nhiễm trùng, tạo sẹo, rối loạn sắc tố, bùng phát mụn trứng cá, và hình thành mụn thịt (milia). Trong số đó, phát ban mụn trứng cá và hình thành mụn thịt là các biến chứng thường xảy ra nhất nhưng cũng là các biến chứng dễ điều trị nhất. Mụn thịt là biến chứng thường gặp của dermabrasion và thường xuất hiện 3-4 tuần sau thủ thuật. Nặn mụn thịt là cách điều trị dễ dàng và hiệu quả. Mụn trứng cá có thể được điều trị bằng thuốc phù hợp nhưng nên tránh các loại thuốc bôi có tính lột da và kích ứng cho dến khi quá trinh tái tạo thượng bì hoàn tất [3].

Nhiễm trùng và tạo sẹo là những biến chứng đáng lo hơn. Tái khám kiểm tra sớm cho phép theo dõi, phát hiện và điều trị sớm những biến chứng này. Dấu hiệu nhiễm trùng gồm chảy mủ, có mùi hôi, loét và áp xe. Nếu nghi ngờ, có thể bắt đầu điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm và thay đổi kháng sinh điều trị tùy thuộc vào độ nhạy của vi khuẩn nếu có thực hiện kháng sinh đồ. Dấu hiệu sớm nhất của biến chứng tạo sẹo là da trở nên cứng và đỏ bất thường trong 2-3 tuần đầu, những vùng này cần phải điều trị bằng corticoid bôi mạnh. Nếu xuất hiện đỏ da kéo dài hoặc vết chai cứng trong 2-4 tháng, thì đây có thể là sẹo phì đại hoặc sẹo lồi và cần phải điều trị ngay bằng cách tiêm triamcinolone vào tổn thương. Nếu xuất hiện tăng sắc tố, có thể điều trị bằng công thức phối hợp giữa hydro- quinone và retinoid, bôi càng sớm càng tốt từ 3-4 tuần sau mài da và tiếp tục trong 4-8 tuần. Ở bệnh nhân có phân loại da tối màu theo Fitzpatrick, có thể xuất hiện biến chứng mất sắc tố và có thể điều trị biến chứng này bằng laser excimer 305 nm (Harmon). Không nên nhầm lẫn biến chứng này với hiện tượng giả mất sắc tố do vùng da được điều trị sáng hơn so với vùng bên cạnh (vùng không được điều trị vốn bị tổn thương da ánh sáng). Thêm một lần nữa, cần phải nhấn mạnh vai trò của việc tránh nắng nhằm hạn chế sự thay đổi sắc tố lâu dài sau thủ thuật dermabrasion. Trang điểm ngụy trang có thể thực hiện ở những bệnh nhân bị rối loạn sắc tố kéo dài sau thủ thuật [3].

Kết quả

Nếu lựa chọn bệnh nhân phù hợp và được thực hiện bởi các bác sĩ da liễu có đào tạo bài bản, thì hiệu quả điều trị của dermabrasion là rất tốt. Dermabrasion vẫn là tiêu chuẩn vàng để điều trị sẹo trứng cá ở mặt. Những thay đổi về lâm sàng và mô học của phương pháp này đã được chứng minh. Sinh thiết da trước và sau thủ thuật cho thấy sau khi điều trị, có sự gia tăng mật độ các bó collagen và các bó collagen này được sắp xếp song song với bề mặt da [3]. Thêm nhiều nghiên cứu khác cũng đã chứng minh rằng dermabrasion có thể làm tăng sự lắng đọng của collagen type I & III và có sự đồng nhất các sợi elastin trong lớp bì [15].

Dermabra- sion được chứng minh là hiệu quả hơn so với peel trichloroacetic acid (TCA) trên mức độ mô bệnh học [15]. Các nghiên cứu cho thấy rằng mài da bằng motor hoặc mài thủ công bằng giấy nhám có hiệu quả điều trị tương đương trong cải thiện bề mặt sẹo phẫu thuật, nhưng phương pháp mài da thủ công có thể cho hiệu quả tốt hơn đối với các vùng da nhạy cảm như vùng quanh mắt và quanh miệng, trong khi đó mài da bằng motor tỏ ra có ưu thế hơn nếu bề mặt điều trị lớn như khi thực hiện toàn mặt hoặc ở chi [28,29].

Dermabrasion là một thủ thuật khó về kĩ thuật thực hiện và nếu mài quá nông thì sẽ không đạt được hiệu quả tốt trong khi nếu mài quá sâu sẽ để lại sẹo. Ngày nay, thủ thuật dermabrasion được thực hiện chủ yếu bởi bác sĩ da liễu và bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Bác sĩ thực hiện thủ thuật cần được đào tạo kĩ lưỡng bởi những bác sĩ có kinh nghiệm trước khi thực hiện kĩ thuật này một mình vì hiệu quả điều trị rất khác nhau tùy thuộc vào kinh nghiệm và kĩ năng của người làm thủ thuật.

Vi mài da (microdermabrasion)

Đại cương

Vi mài da là phương pháp tái tạo bề mặt da nông thường được thực hiện. Năm 2002, có hơn 1 triệu bệnh nhân thực hiện vi mài da ở Mỹ [30]. Mặc dù xu hướng ngày càng tăng lên của các phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser và các phương pháp khác, nhưng vi mài da vẫn là một thủ thuật thẩm mỹ phổ biến, ước tính trung bình có ít nhất 500.000 bệnh nhân được điều trị với phương pháp này hàng năm [2]. So với các phương pháp derm- abrasion, laser xâm lấn và peel sâu thì microdermabrasion là thủ thuật rẻ tiền, không xâm lấn, nguy cơ thấp, thời gian tiến hành ngắn và đó là lí do khiến thủ thuật này vẫn được bệnh nhân và các bác sĩ tiếp tục sử dụng.

Năm 1985, một công ty ở Italia tên là Molimed Engineering đã tạo ra thiết bị microdermabrasion áp lực âm đầu tiên. Năm 1988, Monteleone đã mô tả cách sử dụng kĩ thuật mới này để điều trị sẹo trên mặt. Đầu thập niên 1990, Cục Quản lí Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kì đã công nhận thiết bị microdermabrasion, từ đó ngày càng nhiều thiết bị được sản xuất và sử
dụng. Thiết bị microdermabrasion hiện nay có thể tìm thấy trong các phòng khám và các spa thẩm mỹ và thủ thuật microdermabrasion vẫn là một trong những thủ thuật thẩm mỹ được thực hiện phổ biến ở Mỹ [30].

Sinh lý bệnh

Microdermabrasion được thực hiện nhằm loại bỏ lớp thượng bì nông trên bề mặt. Phương pháp điều trị này bao gồm quá trình gây lột da trực tiếp bằng dụng cụ mài và quá trình hút các mảnh da vụn bằng dụng cụ hút. Trên lý thuyết, các chấn thương nhẹ trên da có thể được gây ra bởi quá trình mài da và quá trình hút trong khi điều trị [2,16].

Nếu thiết bị microdermabrasion được cài đặt ở chế độ thích hợp, có thể loại bỏ được lớp sừng, lớp hạt và một phần của lớp gai thượng bì. Khi sử dụng thiết bị vi mài da, với mỗi pass lên da thì có thể loại bỏ được khoảng 10-15 µm thượng bị [2]. Nếu đi 2 pass sẽ loại bỏ được lớp sừng và nếu 4 pass thì có thể mài đến một phần của lớp hạt thượng bì [2]. Microderm- abrasion không được dùng để mài bỏ toàn bộ bề dày lớp thượng bì như trong trường hợp dermabrasion. Tuy nhiên, cả 2 phương pháp đều nhằm mục đích kích thích quá trình lành vết thương để làm da trở nên săn chắc, trơn láng. Quá trình vi mài da (microdermabrasion) chỉ tạo thành vết thương nông và mỏng trên bề mặt và dường như không gây chảy máu, do đó đáp ứng lành vết thương cũng sẽ rất hạn chế so với phương pháp mài da (dermabrasion) [2].


Tác dụng sinh hóa và mô học của microdermabrasion vẫn còn đang được tranh cải. Trong khi đó, có nhiều nghiên cứu đồng thời đã chứng minh rằng có sự thay đổi nồng độ các chất sinh hóa và cấu trúc thượng bì sau khi thực hiện microdermabrasion, tuy nhiên thời gian tồn tại và độ sâu của những thay đổi này rất hạn chế [31-37]. Trong ngày đầu sau khi điều trị bằng microdermabrasion, lớp tế bào sừng mới sẽ kết dính chặt chẽ hơn giúp cải thiện chức năng bảo vệ của da [2,31]. Điều này giải thích tại sao bệnh nhân và các bác sĩ có thể thấy da trở nên trơn láng và săn chắc ngay sau khi điều trị. Tuy nhiên, những thay đổi tích cực này chỉ kéo dài 1-2 tuần sau điều trị [30]. Karimipour và các cộng sự cho rằng không có sự thay đổi chứng năng của hàng rào thượng bì, bằng chứng cho tuyên bố này là không có sự thay đổi nồng độ của acetyl-coenzyme A (coA) carboxylase và β-Hydroxyl β-methylglutaryl-coA reductase trước và sau điều trị [32]. Những nghiên cứu được thực hiện bởi Tsai và Shim khi phân tích các mẫu sinh thiết da tại vị trị đã được điều trị lần lượt cho thấy có hiện tượng phù
lớp da nông và tăng sợi elastin [36,37]. Một số nhà nghiên cứu cho rằng những thay đổi đó là nhờ vào quá trình hút áp lực âm trong điều trị hơn là quá trình mài da, tuy nhiên ý kiến này vẫn chưa được chứng minh.

Ngoài ra, những thay đổi về type collagen, mật độ và hình thái học sau khi điều trị microdermabrasion cũng đã được báo cáo. Hernandez-Perez và Ibiett đã báo cáo có sự gia tăng các sợi collagen, elastin và hình thành mạng lưới thần kinh, mạch máu trên một nhóm nhỏ bệnh nhân [38]. Trái ngược với các báo cáo trên, những tác giả khác cho rằng có sự gia tăng của các chất trung gian khởi phát quá trình sản xuất và tái tổ chức col- lagen nhưng lại không hề có sự thay đổi cấu trúc da sau điều trị [34,35]. Karimipour và các đồng nghiệp của mình đã nghiên cứu sự thay đổi sinh hóa sau khi điều trị với microdermabrasion, và ông đã phát hiện có sự gia tăng nồng độ của các yếu tố lành vết thương gồm protein hoạt hóa 1 và yếu tố nhân kappa B sau một lần điều trị với microdermabrasion [32,33]. Các tác giả này cũng đã báo cáo có sự tăng nồng độ của matrix metallopro- teinased, đây là chất trung gian của quá trinh trình tái tạo chất nền ngoại bào và collagen. Tuy nhiên, không thấy có sự gia tăng nồng độ của collagen type I hoặc III sau điều trị [32,33].

Lựa chọn bệnh nhân và chăm sóc trước thủ thuật

Microdermabrasion là phương pháp thường được sử dụng nhất để điều trị các vấn đề sau: da khô và thô ráp, các rãnh nhỏ và nếp nhăn, tổn thương ánh sáng, tăng sắc tố và sẹo trứng cá [2,16,33,39]. Khi điều trị mài da nông với phương pháp này, những sẹo trứng cá nông có sự cải thiện nhiều hơn so với các loại sẹo rolling hoặc sẹo phì đại. Ngoài ra, những bệnh nhân khi được cân nhắc điều trị sẹo trứng cá bằng microdermabra- sion nên được tư vấn về hiệu quá điều trị khác nhau tùy người và có thể cần phải điều trị nhiều lần [2]. Sẹo trứng cá tốt hơn nên được điều trị phối hợp giữa các phương pháp microdermabrasion, peel hóa chất, và điều trị laser hoặc phối hợp microdermabrasion với liệu pháp đưa dung dịch vào da [2,16,40-43] (hình 6.4 và 6.5).

HÌNH 6.4 Kết quả điều trị của phương pháp microdermabrasion kết hợp với đưa dung dịch vào da. Có sự cải thiện tình trạng mụn trứng cá và sẹo trứng cá sau nhiều liệu trình điều trị với microdermabrasion và dermalinfusion (đưa dung dịch vào da) bằng thiết bị SilkPeel.

HÌNH 6.5 Kết quả điều trị của phương pháp microdermabrasion kết hợp với đưa dung dịch vào da. Có sự cải thiện tình trạng mụn trứng cá và sẹo trứng cá sau nhiều liệu trình điều trị với microdermabrasion và dermalinfusion (đưa dung dịch vào da) bằng thiết bị SilkPeel.

Các bệnh nhân thuộc tất cả các phân loại da theo Fitzpatrick đều có thể thực hiện được microdermabrasion, vì nguy cơ tăng sắc tố sau điều trị thấp [2]. Tuy nhiên, cần lưu ý khi điều trị bệnh nhân có phân loại da theo Fitzpatrick từ IV-VI vì biến chứng tăng sắc tố sau viêm xảy ra nhiều hơn trên những đối tượng bệnh nhân này [30]. Những bệnh nhân đang có nhiễm trùng da ở vùng điều trị, tiền sử sẹo lồi, sử dụng isotretinoin
trong 6-12 tháng gần đây, tiền sử rối loạn chảy máu, đang mắc bệnh có hiện tượng koebner, mụn mủ hoặc trứng cá đỏ hoạt động, hoặc chống nắng kém thì không nên tiến hành microdermabrasion [2].

Những bệnh nhân có tiền sử bị herpes môi nên được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus 2-3 ngày trước khi điều trị bằng micro- dermabrasion. Bệnh nhân phải được dặn bôi kem chống nắng cẩn thận trong suốt liệu trình điều trị và nên tránh peel da bằng hóa chất, tẩy lông hoặc phơi nắng trực tiếp vùng điều trị bắt đầu từ ít nhất 2 tuần trước khi điều trị [2].

Thiết bị vi mài da

Mỗi thiết bị microdermabrasion có 2 chức năng chính: hút áp lực âm và mài da. Bộ phân hút áp lực âm của thiết bị có chức năng hút và kéo da vào bên trong bộ phận mài da nhờ đó sẽ lằm tăng lực tiếp xúc giữa da và bộ phận mài cũng như hút các mảnh vụn da ra khỏi bề mặt da. Bên trong thiết bị là một khoang trống là nơi chứa các mảnh da được hút vào. Có 2 thiết bị mài chính được sử dụng: các tinh thể hoặc tấm đính kim cương. Tinh thể thường được sử dụng nhất là aluminum oxide (nhôm ox- ide) đường kính 100µm. Những tinh thể này rất là cứng và không tan, có nhiều mặt và góc cạnh sắc nhọn nên tác dụng mài rất hiệu quả (Tan). Các tinh thể được thổi qua bề mặt da và được hút ngược vào trong thiết bị cùng với các mảnh vụn tế bào nhờ bộ phận hút áp lực âm. Một số thiết bị sử dụng dạng tinh thể là UltraPeel Crystal và UltraPeel II (Mattioli Engi- neering), MegaPeel Gold (DermaMed International) và Parisian Peel (Aes- thetic Technoloogies). Có thể điều chỉnh lại dòng thổi tinh thể và áp lực âm để thay đổi mức độ điều trị. Nếu muốn giảm mức độ mài da thì có thể điều chỉnh dòng thổi tinh thể chậm hơn và áp lực âm thấp hơn [2].

Các thiết bị không sử dụng tinh thể xuất hiện ngày càng nhiều do loại bỏ được những vấn đề rắc rối liên quan đến các tinh thể được thổi ra như lưu lại các mảnh vụn bẩn trên da và có khả năng gây kích ứng mắt. Có thể sử dụng các tấm đính kim cương có mức độ nhám khác nhau để có thể mài da ở nhiều mức độ khác nhau (mặc dù tất cả đều nông). Những đầu mài này đều có thể tái sử dụng sau khi vô khuẩn trước mỗi lần điều trị. Các thiết bị không sử dụng tinh thể có thể phối hợp với bộ phận đưa dung dịch thuốc vào da để tăng hiệu quả điều trị. Các dung dịch thuốc này được đưa vào nhằm điều trị tăng sắc tố (hydroquinone, hyaluronic acid, decapeptide-12), trứng cá đỏ hoặc mụn trứng cá (erythromycin, salicylic
acid), da khô nhám (glycerin, hyaluronic acid), hoặc tổn thương ánh sáng (vitamin C). Kỹ thuật này gọi là Dermalinfusion và một trong các thiết bị đó là SilkPeel Dermalinfusion (hang Envy Medical). Một thiết bị khác có tên là MegaPeel EX (DermaMed International) cho phép sử dụng hoặc tinh thể hoặc tấm đính kim cương để điều trị. Một số thiết bị còn được phối hợp thêm sóng siêu âm và ánh sáng đèn LED để điều trị [2].

Quy trình kỹ thuật

Trong ngày tiến hành điều trị, bệnh nhân không nên trang điểm hoặc mang đồ trang sức ở trên vùng được điều trị. Vùng da cần điều trị sẽ được lau sạch, tẩy nhờn bằng alcohol để loại bỏ dầu, phấn trang điểm, hoặc kem chống nắng còn lại trên da. Cả bác sĩ và bệnh nhân cần phải mang đồ bảo vệ mắt, đặc biệt nếu dùng thiết bị sử dụng hệ thống mài bằng tinh thể. Khi điều trị ở mặt, bệnh nhân nên mang dải buộc đầu hoặc mũ y tế để giữ tóc không bị vướng và tránh che khuất vùng điều trị. Không cần phải gây tê trước khi làm thủ thuật và bệnh nhân có thể nằm ở tư thế nằm ngữa [2].

Trước khi bắt đầu, nên đưa ra quyết định cài đặt thiết bị một cách cẩn thận. Khi dùng hệ thống tinh thể, nếu chỉnh chế độ dòng thổi tinh thể càng cao, áp lực hút càng lớn và áp lực tay cầm thiết bị đè lên da càng mạnh thì da được mài càng sâu. Đối với thiết bị sử dụng tấm đính kim cương thì độ nhám của tấm mài càng cao, áp lực hút càng tăng thì mức độ mài càng sâu. Đối với cả hai loại thiết bị, mức độ mài da càng cao nếu đi số pass càng nhiều. Nếu thiết bị được kết hợp bộ phận đưa dung dịch vào da thì cần phải lựa chọn dung dịch phù hợp. Nếu cần đưa 2 loại dung dịch để điều trị 2 bệnh khác nhau thì có thể đi thiết bị hai pass, mỗi pass sử dụng một loại dung dịch [2].

Khi điều trị một vùng da nào đó, nên căng vùng da này ra giữa 2 ngón tay thuộc bàn tay không thuận của người tiến hành thủ thuật. Tay thuận cầm thiết bị tiếp xúc nhẹ với bề mặt da, di chuyển chậm với áp lực đè đồng nhất lên vùng da được điều trị theo hướng song song với đường căng da được tạo ra giữa 2 ngón tay như ở trên. Khi sử dụng thiết bị dùng tấm kim cương thì cần phải lưu ý là sẽ không có tác dụng mài nếu không di chuyển thiết bị. Khuyến cáo nên đi 2 pass lên toàn bộ vùng được điều trị. Pass thứ hai nên di chuyển vuông góc với pass thứ nhất. Khi mài da nên di chuyển bắt đầu từ phía trong ra ngoài. Không nên điều trị ở vùng mí mắt và vùng niêm mạc môi. Điểm cuối lâm sàng của phương pháp này là đỏ da.


Nếu bệnh nhân thấy đau, xuất hiện chảy máu và bầm tím thì nghĩa là thực hiện thủ thuật quá mạnh [2].
Sau điều trị, bệnh nhân cần phải chống nắng cận thận trong ít nhất 2 tuần. Bệnh nhân có thể thấy da khô, đỏ, và châm chích kèo dài vài ngày sau điều trị. Thông thường, mỗi bệnh nhân thường được điều trị với mi- crodermabrasion khoảng 6 lần, cách nhau mỗi 2-4 tuần. Có thể điều trị duy trì với khoảng cách thời gian dài hơn. Đối với một số vấn đề về da mà đặc biệt là sẹo trứng cá có thể cần phải thực hiện 15 lần điều trị hoặc nhiều hơn mới có thể thấy được hiệu quả [2,16,30].

Hiệu quả điều trị

Bệnh nhân thường rất hài lòng với kết quả đạt được khi điều trị bằng microdermabrasion và báo cáo cho thấy có sự cải thiện cấu trúc và màu sắc da sau 1 lần điều trị [30]. Tuy nhiên, cần phải thực hiện điều trị nhiều lần để đạt được sự cải thiện trên lâm sàng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các bệnh nhân và những người không làm chuyên môn (không phải là bác sĩ) là những người nhận ra được sự cải thiện số lượng các rảnh nhỏ và nếp nhăn sau 8 tuần điều trị với tần suất 1 lần mỗi tuần [30]. Có thể thấy được sự cải thiện khi điều trị các tổn thương ánh sáng (đốm nâu, rảnh nhỏ) và mụn trứng cá sau ít nhất 6 lần điều trị bằng microdermabra- sion kết hợp với bôi dung dịch tại chỗ [2,30,39]. Điều trị phối hợp micro- dermabrasion và dermalinfusion với dung dịch làm trắng có thể giúp cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau viêm chỉ sau 4 lần điều trị [42] (hình 6.6).

HÌNH 6.6 Kết quả sau điều trị phối hợp microdermabrasion với phương pháp đưa dung dịch vào da. Có sự cải thiện tình trạng sẹo trứng cá và tăng sắc tố sau viêm sau nhiều liệu trình điều trị phối hợp microdermabrasion và dermalinfusion (đưa dung dịch vào da) bằng thiết bị SilkPeel.

Để có thể nhìn thấy được sự cải thiện thì cần phải điều trị trên 6 lần [2,30]. Tsai và các cộng sự nhận thấy rằng bệnh nhân cần trung bình khoảng 9 lần điều trị với thiết bị sử dụng tinh thể aluminum oxide mới có thể làm mờ tất cả các loại sẹo trên mặt [36]. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng để đạt được hiệu quả điều trị từ mức tốt đến rất tốt thì cần trung bình 15 lần điều trị và một số bệnh nhân cần đến 40 lần điều trị mới thấy được kết quả [36]. Một nghiên cứu khác đã được thực hiện bởi El-Domyati và các đồng nghiệp về tác dụng trên mô học và lâm sàng của microderm- abrasion trong điều trị nám má, sẹo trứng cá, và vết rạn da sau 8 lần điều trị [31]. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm các bệnh nhân nám má có sự cải thiện sắc tố từ nhẹ đến trung bình trên lâm sàng và có sự giảm mức độ melanin hóa cũng như có sự phân bố đồng đều hơn của các túi melanin (melanosomes) trên mô học [31]. Trong nhóm bệnh nhân sẹo trứng cá, những bệnh nhân bị sẹo trứng cá dạng đỏ da nông có sự cải thiện tốt nhất so với bệnh nhân bị các loại sẹo rolling, ice pick, hoặc boxcar [31]. Trên mô học, những bệnh nhân này có các bó collagen được sắp xếp đều hơn và tăng mật độ collagen, nhưng không thấy có sự thay đổi mật độ và sự sắp xếp [31]. Trong nhóm bệnh nhân rạn da, các tổn thương đỏ da đáp ứng tốt hơn so với các tổn thương giảm sắc tố; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ dày của lớp thượng bì trước và sau điều trị nhưng mật độ collagen có tăng lên và các bó collagen được sắp xếp đều hơn [31].

Phối hợp các phương pháp tái tạo bề mặt như phối hợp microderm- abrasion với peel hóa chất, hoặc microdermabrasion với liệu pháp laser có thể cho hiệu quả cao hơn [40-43]. Lee và các cộng sự đã chỉ ra rằng phối hợp giữa laser xung nhuộm màu PDL 595 nm, laser alexandrite 755 nm và microdermabrasion có thể giúp da giảm thô ráp và giảm các thay đổi sắc tố gây ra bởi dày sừng nang lông [43]. Các nghiên cứu khác cho thấy cả hai phương pháp microdermabrasion và điều trị bằng salicylic acid đều có thể làm tăng collagen nhưng phương pháp dùng salicylic acid có tác dụng nhiều hơn một ít [41]. Phối hợp thêm microdermabrasion sau peel retinoic acid cho thấy có sự cải thiện lâm sàng với da bị tổn thương ánh sáng tốt hơn là điều trị đơn thuần bằng microdermabrasion, cả 2 phương pháp này đều an toàn và bệnh nhân dễ dung nạp [40].

Tài liệu tham khảo

1. Lawrence N, Mandy S, Yarborough J. History of dermabrasion. Dermatol Surg. 2000;26(2):95–101.

2. Small R, Quema R. Microdermabrasion. In: Dermatologic and Cosmetic Procedures in Office Practice.

Usatine RP, ed. Saunders, Philadelphia, PA. 2012, 274–85.

3. Harmon C, Thiele J. Dermabrasion for acne scars. In: Acne Scars: Classification and Treatment. Tosti

A, De Padova MP, Beer K, eds. Boca Raton, FL: CRC Press, 2010, 42–8.

4. Kromayer E. Rotation instruments: A new technical procedure in dermatological small surgery. Dermatol

Z. 1905;12:26.

5. Kromayer E. Cosmetic Treatment of Skin Complaints. New York: Oxford University Press, 1930.

(English translation of the second German edition, 1929).

6. Iverson P. Surgical removal of traumatic tattoos of the face. Plast Reconstr Surg. 1947;2427–32.

FIGURE 6.6 Results of microdermabrasion with solution infusion. Improvement in the appearance of acne scarring and

post-inammatory hyperpigmentation after multiple treatments with microdermabrasion and Dermalinfusion using the

SilkPeel device. (Photographs courtesy of Envy Medical.)


52 Acne Scars

7. McEvitt, WG. Treatment of acne pits by abrasion with sandpaper. JAMA. 1950;142:647–8.

8. Kurtin A. Corrective surgical planing of the skin. Arch Dermatol Syphil. 1953;68:389.

9. Burks J. Wirebrush Surgery. Springeld, IL: Charles C Thomas, 1955.

10. Burks J. Abrasive removal of scars. South Med J. 1955;48:452–9.

11. Yarborough J, Beeson WD, Beeson W, McCullough E. Aesthetic Surgery of the Aging Face. St Louis,

Mo.: CV Mosby Co., 1986, 142–81.

12. Yarborough J. Ablation of facial scars by programmed dermabrasion. J Dermatol Surg Oncol. 1988; 33:

14292–4.

13. Eming S. Biology of wound healing. In: Dermatology. 3rd ed. Bolognia JL, Jorizzo JL, Schaffer JV, eds.

Elzevier, Philadelphia, PA. 2012, 2313–25.

14. Harmon C, Zelickson B, Roenigk R et al. Dermabrasive scar revision: Immunohistochemical and

ultrastructural evaluation. Dermatol Surg. 1995;21503–8.

15. El-Domyati M, Attia S, Saleh F. Trichloracetic acid peeling versus dermabrasion: A histometric,

immunohistochemical, and ultrastructural comparison. Dermatol Surg. 2004;30(2):179–88.

16. Monheit G, Chastain M. Chemical and mechanical skin resurfacing. In: Dermatology. 3rd ed. Bolognia

JL, Jorizzo JL, Schaffer JV, eds. Elzevier, Philadelphia, PA. 2012, 2493–508.

17. Fulton J. Dermabrasion, chemabrasion, and laserabrasion: Historical perspectives, modern dermabrasion

techniques, and future trends. Dermatol Surg. 1996;22(7):619–28.

18. Zisser M, Kaplan B, Moy R. Surgical pearl: Manual dermabrasion. JAAD. 1995;33(1):105–6.

19. Katz B, Oca A. A controlled study of the effectiveness of spot dermabrasion (“scarabrasion”) on the

appearance of surgical scars. J Am Acad Dermatol. 1991;24:462–6.


20. Emsen I. Effect of dermasanding (manual dermabrasion) with sandpaper on appearance of both post-

surgical and burn scars. Aes Plast Surg. 2007;31(5):608–11.


21. Emsen I. A different and cheap method: Sandpaper (manual dermasanding) in treatment of periorbital

wrinkles. J Craniofac Surg. 2008;19(3):812–6.

22. Zaimi I, Romanzi A, Gherardini G. Tricks and tips for manual dermabrasion. Dermatol Surg.

2016;42(12):1393–4.

23. Landau M. Commentary on tricks and tips for manual dermabrasion. Dermatol Surg. 2016;42(12):1395.

24. Kidwell W, Apprey C, Messingham M. A comparison of histologic effectiveness and ultrastructural

properties of the electrocautery scratch pad to sandpaper for manual dermabrasion. Dermatol Surg.

2008;34(9):1194–9.

25. Pavlidis L, Spyropolou G-A. A simple technique to perform manual dermabrasion with sandpaper.

Dermatol Surg. 2012;38(12):2016–7.

26. Wilson J, Ayres S, Luikart R. Mixtures of uorinated hydrocarbons as refridgerated aesthetic. Arch

Dermatol. 1956;74:310–11.

27. Christophel J, Elm C, Edrizzi B. A randomized controlled trial of fractional laser therapy and

dermabrasion for scar resurfacing. Dermatol Surg. 2012;38(4):595–602.

28. Poulos E, Taylor C, Solish N. Effectiveness of dermasanding on appearance of surgical scars: A

prospective randomized blinded study. Derm Surg. 2002;48(6):897–900.

29. Gillard M, Wang T, Boyd C. Conventional diamond fraise versus manual spot dermabrasion with drywall

sanding screen for scars from skin cancer surgery. Arch Dermatol. 2002;138(8):1035–9.

30. Nahm W, Rotunda A, Han K, Schmidt A, Moy R. Microdermabrasion for treatment of photoaging. In:

Photoaging. Rigel D, Weiss R, Lim H, Dover J, eds. New York: Marcel Dekker, 2004, 95–110.

31. El-Domyati M, Hosam W, Abdel-Azim E, Abdel-Wahab H, Mohamed E. Microdermabrasion: A clinical,

histometric, and histopathologic study. J Cosmet Dermatol. 2016;15(4):503–13.

32. Karimipour D, Kang S, Johnson T et al. Microdermabrasion: A molecular analysis following a single

treatment. J Am Acad Dermatol. 2005;52:215–23.

33. Karimipour D, Karimipour G, Orringer J. Microdermabrasion: An evidence-based review. Plast Reconstr

Surg. 2010;125(1):372–7.

34. Kirkland E, Hantash B. Microdermabrasion: Molecular mechanisms unraveled, part 1. J Drugs Dermatol.

2012;11(9):e2–9.

35. Kirkland E, Hantash B. Microdermabrasion: Molecular mechanisms unraveled, part 2. J Drugs Dermatol.

2012;11(9):e10–17.

36. Tsai R, Wang C, Chan H. Aluminum oxide crystal microdermabrasion: A new technique for treating

facial scarring. Dermatol Surg. 1995;21:539–42.


Microdermabrasion and Dermabrasion 53

37. Shim E, Barnette D, Hughes K, Greenway H. Microdermabrasion: A clinical and histopathologic study.

Dermatol Surg. 2001;27:524–30.

38. Hernandez-Perez E, Ibiett E. Gross and microscopic ndings in patients undergoing microdermabrasion

for facial rejuvenation. Dermatol Surg. 2001;27(7):637–40.

39. Tan M, Spencer J, Pires LM, Amjeri J, Skover G. The evaluation of aluminum oxide cystal

microdermabrasion for photodamage. Dermatol Surg. 2001;28:745–50.

40. Faghihi G, Fatemi-Tabaei S, Abtahi-Naeini B et al. The effectiveness of a 5% retinoic acid peel combined

with microdermabrasion for facial photoaging: A randomized, double-blind, placebo-controlled clinical

trial. Dermatol Res Pract. 2017;2017:8516527.

41. Abdel-Motaleb A, Abu-Dief E, Hussein M. Dermal morphological changes following salicylic acid

peeling and microdermabrasion. J Cosmet Dermatol. 2017, 16(4):e9-e14.

42. Bhatia A, Hsu J, Hantash B. Combined topical delivery and dermalinfusion of decapeptide-12 accelerates

resolution of post-inammatory hyperpigmentation in skin of color. J Drugs Dermatol. 2014;13(1):84–5.

43. Lee S, Choi M, Zheng Z, Chung W, Kim Y, Cho S. Combination of 595-nm pulsed dye laser, long-pulsed

755-nm alexandrite laser, and microdermabrasion treatment for keratosis pilaris: Retrospective analysis

of 26 Korean patients. J Cosmet Laser Ther. 2013;15(3):150–4.

44. Harmon CB, Thiele JJ. Dermabrasion for acne scars. In: Acne Scars. Tosti A, De Padova MP, Beer K, eds.

London: Informa, 2009.


Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét