PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ SẸO TRỨNG CÁ (PHẦN 2)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Đọc thêm:
Phác đồ điều trị sẹo trứng cá (Phần 3)
Phác đồ điều trị sẹo trứng cá (Phần 1)
Sẹo lõm nhẹ (sẹo trứng cá độ 2)
Đặc điểm lâm sàng
Thuộc thang điểm sẹo này gồm những sẹo không thể nhìn thấy rõ ở khoảng cách trên 50 cm và có thể được che đậy hoàn toàn bằng make up hoặc bằng bóng lông râu đã cạo ở nam hoặc lông nếu ở vùng ngoài mặt (hình 16.7).HÌNH 16.7 Đặc điểm (a) lâm sàng và (b) mô học của tổn thương trứng cá viêm. Quá trình viêm pha I (6-24h), có sự gia tăng số lượng tế bào bạch cầu trung tính đi vào nang lông (viêm nang lông mủ) và bạch cầu limpho ở quanh các đơn vị nang lông tuyến bã (viêm quanh lỗ chân lông). (c) sẹo trứng cá độ 3.
Điều trị ở bệnh nhân bị sẹo rải rác
Làm đầy mô
Nếu chỉ có nhóm vài sẹo thì có thể lựa chọn các phương pháp điều trị tương đối đơn giản. Thập kỉ vừa qua đã chứng kiến sự ra đời của nhiều chất làm đầy mô có đặc tính sinh học không tự thân hoặc không có đặc tính sinh học được sử dụng để chỉnh sửa sẹo lõm. Do đạt được tính an toàn và mang lại hiệu quả điều trị lâu dài hoặc vĩnh viễn nên việc sử dụng các chất làm đầy mô đã trở thành lĩnh vực đang rất được quan tâm [66].Các chất có hiệu quả tác dụng chỉnh sửa ngắn gồm filler tiêm như collagen bò trộn với hạt methylmethacrylate, polylactic acid và hyaluronic hoặc agarose acid. Thông thường cần 2 đến 3 lần điều trị để đạt được kết quả chỉnh sửa tốt nhất, do đó có thể cần từ 6 tháng đến 1 hoặc 2 năm mới đạt được hiệu quả chỉnh sửa sẹo.
Các dạng silicon của polyacrylamides và polytetrafluoroethylene là những chất được sử dụng để mang lại hiệu quả chỉnh sửa lâu dài hơn [33]. Những chất này không hiệu quả khi dùng để cải thiện sẹo mức độ nhẹ do các phản ứng miễn dịch tại chỗ.
Tuy nhiên, tất cả những chất làm đầy da điều có thể gây ra các phản ứng trung gian miễn dịch hoặc đơn giản là không được bơm vào đúng vị trí [33].
Goodman [67] mô tả phương pháp làm đầy mô bằng máu toàn phần của bệnh nhân. Máu toàn phần đã được nghiên cứu là có khả năng mang đến chromophore ngoại sinh để trở thành mục tiêu của laser đơn sắc hoặc ánh sáng đa sắc.
Máu toàn phần được tiêm ngay vào da sau khi lấy bằng xi lanh 1 ml, đầu kim 30 G để làm trương phồng sẹo tạo thành một bóng bầm máu. Phương pháp điều trị này có thể lặp lại hàng tháng cho đến khi đạt được sự cải thiện như mong muốn. Sử dụng năng lượng cao có thể gây phản tác dụng vì sự lắng đọng collagen được tạo ra nhiều hơn bởi các tổn thương nhiệt mức độ thấp hơn.
Điều trị ở bệnh nhân bị nhiều sẹo
Vi mài da (microdermabrasion)
Mài da (dermabrasion) là kĩ thuật tái tạo bề mặt đầu tiên được sử dụng để điều trị sẹo. Trong 3 thập kỉ gần đây chúng ta đã thấy được sự phát triển trong các kĩ thuật, thiết bị và gây mê và sự phát triển rầm rộ của phương pháp mài da thủ công.Các thiết bị cầm tay mới với tốc độ quay 20.000-30.000 đã giúp kiểm soát độ sâu của tổn thương và khả năng lặp lại điều trị. Mài da được thực hiện trên da mặt đã được làm căng hoặc đông cứng để loại bỏ mô đến lớp bì nhú hoặc nếu trong trường hợp sẹo nặng thì có thể loại bỏ đến lớp bì lưới trên [68].
Phương pháp vi mài da sử dụng các tinh thể oxit nhôm đã được chú ý đến nhiều trong điều trị sẹo trứng cá [68]. Các tinh thể oxit nhôm nhỏ được bắn vào da từ một ống chứa hệ thống nén và hút; từ đó có thể gây ra nhiều vết rách nhỏ và các tinh thể sẽ được hút ngược trở lại từ da để bỏ đi. Có thể cần phải điều trị nhiều lần.
Trước khi bắt đầu bất kì thủ thuật tái tạo bề mặt nào, điều quan trọng nhất là phải bàn luận với bệnh nhân về hiệu quả điều trị có thể đạt được bao gồm quá trình lành tự nhiên, chăm sóc sau thủ thuật, và các biến chứng có thể xảy ra. Cần phải hỏi tiền sử bệnh nhân về các bệnh nhiễm trùng, tái phát herpes trước đó, sẹo lồi, cơ địa chảy máu và quá trình điều trị isotretinoin trước đó [68].
Mặc dù mài da là thủ thuật có nhiều nguy cơ để lại sẹo, mất sắc tố và hiệu quả điều trị trên lâm sàng rất khác nhau nhưng đây vẫn là phương pháp cần thiết vì nó là lựa chọn rẻ tiền hơn so với liệu pháp laser, do đó đây vẫn là phương pháp được các bác sĩ lâm sàng sử dụng trong điều trị sẹo trứng cá.
Lăn kim
Lăn kim là một phương pháp điều trị sẹo trứng cá hiệu quả vì phương pháp này tạo ra nhiều lỗ tổn thương trên da bằng các kim nhỏ nhằm kích thích sự tăng trưởng collagen. Từ năm 1995, Orentreich và Orentreich [6] đã sử dụng kĩ thuật này để kích thích tăng sinh collagen dưới da. Desmond Fernandes [31], đã sử dụng phương pháp lăn kim (một cách độc lập) để điều trị môi trên bằng cách đâm kim 15 G vào da và sau đó tạo đường hầm bên dưới các nếp nhăn theo nhiều hướng khác nhau. Sẹo được điều trị bằng súng tattoo để mài. Mặc dù kỹ thuật này có thể được sử dụng ở nhiều vùng, tuy nhiên phương pháp này chậm và các lỗ trên thượng bì quá gần và quá nông. Tất cả những kỹ thuật này đều có tác dụng bởi vì các vi kim giúp bẻ gãy các sợi collagen cũ đang co kéo sẹo hoặc nếp nhăn ở lớp nông của da. Thủ thuật này được cho là giúp loại bỏ các collagen bị tổn thương và tạo ra nhiều collagen ngay dưới thượng bì.Một thiết bị lăn kim mới gắn nhiều kim 30 G (Dermaroller) hiện đã có sẵn trên thị trường. Cây lăn kim này cho phép lăn theo chiều dọc, ngang, và chéo phải, chéo trái trên vùng da có sẹo. Những cây kim này sẽ đâm qua thượng bì từ 1.5-2 mm để đến lớp bì. Lớp thượng bì chỉ bị đâm từng điểm nên lành rất nhanh. Sau khi điều trị, da chảy máu trong thời gian ngắn. Khi máu ngừng chảy, dịch tiết rỉ ra có thể được lau sạch bằng nước muối vô khuẩn. Sau mỗi lần điều trị, da mặt của bệnh nhân sẽ trở nên đỏ và sưng, sau đó biến mất trong vòng 2-3 ngày. Thủ thuật này thường ít khi có tác dụng phụ và có thể thực hiện ở vùng da mặt hoặc các vùng da khác trên cơ thể [32, 69].
Kỹ thuật này có thể lặp lại mỗi tháng và khi thực hiện thì cần lăn dermaroller liên tục cho đến khi thấy các điểm chảy máu.
Cơ chế của liệu pháp tăng sinh collagen (CIT) này dựa trên một thực tế khoa học là các tế bào da liên lạc với nhau qua các tín hiệu điện. Khi da được lăn kim, các tế bào phản ứng lại sự xâm nhập bằng cách thay đổi hiệu điện thế bên trong tế bào. Sự thay đổi điện thế này sẽ kích thích các tế bào da tiết ra các chất trung gian hóa học, protein và các yếu tố tăng trưởng. Sau đó, các tế bào da như nguyên bào sợi sẽ tăng sinh và di trú đến vị trí tổn thương và tạo ra các sợi collagen [69].
CIT là một kỹ thuật đơn giản và có thể có hiệu quả cải thiện ngay lập tức đối với sẹo rolling. Theo như y văn, để có thể đạt hiệu quả hoàn toàn thì cần thực hiện CIT trong thời gian 9-12 tháng điều trị vì quá trình lắng đọng collagen mới diễn ra rất chậm. So với các phương pháp xâm lấn khác, phương pháp CIT này có nhiều ưu điểm. Ưu điểm quan trọng nhất đó là lớp thượng bì vẫn còn nguyên vẹn vì nó không bị tổn thương, có thể loại bỏ được hầu hết các nguy cơ và tác dụng phụ như của các phương pháp peel hóa chất, laser tái tạo bề mặt hoặc mài da.
Phương pháp điều trị này có tính tương hỗ với các phương pháp điều trị khác như laser không xâm lấn, cấy máu và laser mạch máu. Good- man và Barron [49] đã đề xuất luôn phối hợp lăn kim với các thủ thuật khác (như cấy máu, laser mạch máu và cắt đáy sẹo đối với sẹo lớn), 2 phương đều có thể được thực hiện đồng thời và cách nhau 1 tháng và lặp lại mỗi tháng để đạt được khoảng 3 lần điều trị (laser diode 1450 nm không xâm lấn).
Laser không xâm lấn
Laser tái tạo bề mặt đã trở thành phương pháp điều trị sẹo trứng cá phổ biến, tuy nhiên phương pháp này không phải luôn mang lại hiệu quả đối với tất cả các loại sẹo trứng cá. Sự tái tạo da không xâm lấn đã được chấp thuận trong điều trị sẹo lõm và phương pháp này có vai trò đặc biệt đối với sẹo rolling và sẹo boxcar nông. Đối với sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu thì laser xâm lấn sẽ là lựa chọn tối ưu hơn [72].Mặc dù mang lại hiệu quả điều trị, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu kết luận rằng hiệu quả của laser không xâm lấn không bằng được la- ser xâm lấn vì phương pháp xâm lấn đòi hỏi phải có quá trình tạo thượng bì diễn ra sau đó. Do đó bệnh nhân cần phải cân nhắc lựa chọn giữa hiệu quả điều trị ít hơn hay thời gian hồi phục lâu hơn vì thời gian hồi phục lâu là hết sức cần thiết để thúc đẩy quá trình lành thương phù hợp.
Phần lớn laser sử dụng cho mục đích này là các laser hồng ngoại sóng trung bình như laser diode, laser Er: YAG, Nd: YAG xung ngắn, xung thay đổi, và chế độ kép, và laser ly giải quang nhiệt vi điểm [73,74].
Trái ngược với laser CO2 tái tạo bề mặt, thì các loại laser này làm giảm tối thiểu tổn thương thượng bì bằng cách làm lạnh thượng bì trong khi nhắm đến sự bốc hơi của nước trong lớp bì để gây ra các tổn thương nhiệt lan tỏa bằng cách đốt nóng ở nhiệt độ trên 500C. Nhờ đó có thể tránh được khoảng thời gian phục hồi thượng bì. Ngoài ra, các thiết kế mới của các loại laser này có thể làm giảm tổn thương thượng bì tốt hơn nữa bằng hệ thống phun lạnh (cryogen spray) để làm lạnh da (CoolTouch, Laser Aesthetics) và duy trì nhiệt độ thượng bì từ 42-480C [75,76].
Có thể lặp lại điều trị nếu thấy lợi ích thu được cao hơn so với nguy cơ của thủ thuật, tuy nhiên mức độ kéo dài của kết quả điều trị vẫn chưa được biết rõ.
Có rất nhiều suy đoán xung quanh cơ chế tái tạo da không xâm lấn, mặc dù hiệu quả của phương pháp này đã được chứng minh trên lâm sàng và trên mô học khi điều trị các nếp nhăn [77]. Gần đây khái niệm tổn thương thượng bì cận lâm sàng bắt đầu nổi lên dành cho các loại laser tái tạo bề mặt không xâm lấn [78]. Những tổn thương mạch máu ở lớp bì nông và sự bài tiết cytokine cùng với tiềm năng thúc đẩy tái tạo da có thể lý giải cho hiệu quả đạt được.
Có thể phối hợp kĩ thuật cắt đáy sẹo hoặc lăn kim với laser không xâm lấn đối với những bệnh nhân có sẹo trứng cá mức độ nhẹ và trung bình.
Sẹo lõm trung bình (độ 3)
Đặc điểm lâm sàng
Ở mức độ này sẹo có thể thấy ở khoảng cách từ hoặc trên 50 cm và khó có thể được che đậy bằng make up hoặc bằng bóng lông râu đã cạo ở nam hoặc lông nếu ở vùng ngoài mặt, tuy nhiên sẹo vẫn có thể làm phẳng bằng cách dùng tay kéo căng da (Bảng 16.1; hình 16.8)Thuộc phân loại sẹo này gồm sẹo rolling sâu và sẹo boxcar nông.
Sẹo boxcar nông (0.1-0.5 mm) là những sẹo lõm hình tròn hoặc ovan với bờ sắc nhọn, thẳng đứng tương tự như sẹo do thủy đậu vậy. Trên lâm sàng những sẹo này thường có bề mặt rộng hơn so với sẹo ice pick và không có nhọn dần thành 1 điểm ở đáy.
Điều trị ở những bệnh nhân có ít sẹo
Nếu bệnh nhân chỉ có một vài vết sẹo thì lựa chọn thích hợp có thể là các chất làm đầy tự thân hoặc ngoại sinh tạm thời hoặc vĩnh viễn. Sự phối hợp các kỹ thuật như cắt đáy sẹo, cấy máu, laser không xâm lấn hoặc laser mạch máu, và lăn kim có thể được sử dụng đối với các loại sẹo ng- hiêm trọng hơn.Cắt đáy sẹo
Kỹ thuật cắt đáy sẹo được sử dụng để giải phóng các bó sợi xơ gây lõm trong sẹo rolling sâu và sẹo boxcar nông.Đối với thủ thuật này, thì toàn bộ những vùng được điều trị cần được đánh dấu và gây tê dưới da. Sau đó sử dụng một cây kim dưới da (18-26 G, tùy thuộc vào kích thước và độ sâu của sẹo) để cắt dải xơ bên dưới bề mặt sẹo. Có thể đạt được kết quả rất tốt bằng cách sử dụng kim Nokor Admix 18G, 11/2-inch (Becton Dickinson và Co, Franklin Lakes, NJ, USA). Đầu típ tam giác 3 góc nhọn của kim Nokor (tương tự dao số 11) cho phép tách triệt để các dải xơ. Kỹ thuật thực hiện bao gồm tạo một đường hầm song song với bề mặt da, sau đó chuyển động kim tới lui để cắt dải xơ nhằm giải phóng thượng bì khỏi lớp bì trên [26].
Thủ thuật này sẽ tạo ra một bể máu bên dưới sẹo, giúp cho đáy sẹo ngay lập tức được nâng lên gần ngang với lớp bề mặt. Sự tích tụ máu bên dưới sẹo và quá trình tổ chức diễn ra sau đó được cho là sẽ giúp hình thành mô liên kết. Hầu hết các sẹo lõm trứng cá có sự cải thiện tốt sau 1 đến 3 lần điều trị. Kỹ thuật này có thể được sử dụng phối hợp với các kĩ thuật tái tạo bề mặt để mang lại hiệu quả chỉnh sửa lâu dài.
Phương pháp cắt đáy sẹo đã từng được tiến hành như là phương pháp bổ trợ cho thủ thuật cấy bọt fibrin hoặc collagen, thủ thuật ghép da, và tiêm mỡ vi điểm (microlipoinjection) [79].
Những nguy cơ biến chứng của cắt đáy sẹo gồm chảy máu (thường ít xảy ra nếu được gây tê và băng ép thích hợp) và sự tăng sản sợi quá mất đưa đến tạo thành các nốt. Biến chứng này hiếm khi xảy ra và có thể điều trị bằng tiêm steroid liều thấp, tuy nhiên nó thường biến mất trong 2-3 tháng mà không cần phải điều trị. Những vệt bấm tím do thủ thuật sẽ nhạt dần trong 1-2 tuần.
Vì đây là kĩ thuật đơn giản nhưng có thể mang lại hiệu quả điều trị lâu dài trong điều trị sẹo nên nó xứng đáng được xem là điều trị hàng đầu (first line) trong điều trị các sẹo lõm rải rác mức độ trung bình [79].
Điều trị cho những bệnh nhân có nhiều sẹo
Các kĩ thuật tái tạo bề mặt (laser, RF, peel trung bình, plasma, và mài da)Nếu số lượng sẹo lõm nhiều có thể tiến hành điều trị hiệu quả bằng laser xâm lấn tái tạo bề mặt. Laser CO2 là hệ thống laser đầu tiên được sử dụng để điều trị sẹo trứng cá, thường được sử dụng để thay thế cho mài da (màn thạch cao khô đính sạn [80] hoặc giấy nhám silicon carbide và peel hóa chất mạnh). Những phiên bản mới của các thiết bị này vẫn gặp phải vấn đề là kéo dài thời gian lành vết thương và gặp phải nhiều biến chứng. Mặc dù đã có thêm nhiều loại laser khác ra đời, tuy nhiên lại không chắc rằng chúng có hiệu quả hơn hay là không [80,81]. Laser erbium được cho là có tác dụng tương tự laser CO2 nhưng lại có tính an toàn cao hơn. Một phương pháp điều trị phổ biến khác là kết hợp giữa laser CO2 và laser erbium đồng thời hoặc liên tiếp nhau [81].
Những vấn đề ở trên liên quan đến các biến chứng quá mức của kĩ thuật tái tạo bề mặt, tuy nhiên lại gần như đúng đối với các loại laser mới này [82].
Nỗi sợ lớn nhất khi thực hiện laser tái tạo bề mặt là tỷ lệ giảm sắc tố. Việc sử dụng các tế bào thượng bì được lấy từ mô hiến đã loại bỏ trypsin sau khi tái tạo bề mặt có thể cho phép dự phòng biến chứng này và thúc đẩy quá trình tái tạo thượng bì diễn ra nhanh hơn. Để có thể tăng độ sâu xâm nhập, hướng đến làm co các sợi collagen và làm săn chắc da thì người ta đã ứng dụng rộng rãi sóng vô tuyến (RF) [105]. Thiết bị RF và RF vi điểm sử dụng năng lượng điện để đốt nóng lớp bì ở nhiệt độ tương đối thấp [83].
Thiết bị đầu tiên trong lĩnh vực này là thiết bị RF đơn cực, Ther- malCool (Thermage, Inc, Hayward, CA, USA), đã được chứng minh là có khả năng cải thiện sẹo trứng cá và da chảy xệ. Thiết bị mới nhất gần đây là thiết bị Accent (Alma Lasers, Ltd, Caesarea, Isarael) cho phép chuyển đổi giữa chế độ song cực và chế độ đơn cực mới [84]. Điều trị lão hóa da ánh sáng bằng bằng các thiết bị trẻ hóa da không xâm lấn bao gồm sử dụng liệu pháp quang động [85,86]. Trong phương pháp này, tiến hành bôi chất nhạy cảm ánh sáng tên là 5-5-aminolevulinic acid (ALA), ủ trong thời gian ngắn kết hợp với nguồn sáng và laser mới đã được chứng minh là an toàn và có hiệu quả. Phương pháp này có thể đóng vai trò trong quá trình tăng sinh collagen và do đó có thể giúp cải thiện tình trạng sẹo trứng cá.
Sẹo ở phân loại này cũng có thể được điều trị bằng các phương pháp được sử dụng trong các phân loại sẹo nhẹ hơn, đặc biệt phương pháp lăn kim phối hợp đồng thời với cắt đáy sẹo và sau đó là bằng laser không xâm lấn [87].
Sẹo lõm nặng (sẹo trứng cá độ 4)
Đặc điểm lâm sàng
Sẹo ở mức độ này có thể thấy rõ ở khoảng cách từ hoặc trên 50 cm và khó có thể được che đậy bằng make up hoặc bằng bóng lông râu đã cạo ở nam hoặc lông nếu ở vùng ngoài mặt, và không thể làm phẳng bằng cách dùng tay kéo căng da (bảng 16.1; hình 16.9 và 16.10).Sẹo ice pick
Sẹo ice pick sâu là những sẹo hẹp (<2 mm) và xơ hóa, có bờ sắt nhọn vuông góc với da. sẹo có lớp biểu mô lõm xuống sâu đến lớp dưới da. Sẹo có hình phễu vì đường kính giảm dần từ bề mặt cho đến đỉnh sâu nhất của sẹo.Sẹo boxcar sâu
Sẹo boxcar sâu có đáy lõm sâu (= 0.5 mm), có bờ sắc nhọn và thẳng góc (1.5-4.0 mm).Hang sẹo được tạo ra từ 2 hay nhiều sẹo ice pick được nối với nhau bằng các đường hầm biểu mô hóa. Loại sẹo này có thể được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc sửa chữa bằng kĩ thuật ghép da bằng dụng cụ bấm [88].
Sẹo loạn dưỡng
Loại sẹo này có hình dạng như ngôi sao không đều với nền sẹo lõm và trắng. Loại này cũng có thể xuất hiện theo dạng khối xơ với nhiều đường hầm bên dưới chứa bã nhờn hoặc mủ.Dấu teo da
Dấu teo da là thiếu hụt xảy ra trên những bệnh nhân bị mụn trứng cá ở nơi mà có nang mụn và nang lông bị vỡ làm giải phóng các chất trung gian gây viêm gây phá hủy mỡ ở mặt. Nang mụn cũng là những tổn thương choáng chỗ để lại những khoảng trống sâu khi được giải trừ mà các mô dưới da không thể lấp đầy được.Quá trình lão hóa sẽ làm nặng thêm tình trạng teo mỡ và sự lõm vào của mô vùng trước tai, thái dương, dưới gò má, và quanh miệng sẽ làm nặng hơn hơn cũng như làm cho sẹo ở những vùng này trở nên rõ hơn.
Điều trị
Đối với sẹo boxcar sâu và sẹo ice pick lớn thì phải cắt bằng dụng cụ bấm hình trụ [88], dụng cụ này phải đủ lớn để bấm toàn bộ tổn thương và bấm bằng các kỹ thuật nâng hoặc nổi. Sau khi bấm có thể để vậy để nó tự lành hoặc thay thế bằng mảnh ghép lấy từ vùng trước tai, kích thước mảnh da ghép lớn hơn chỗ thiếu hụt từ 25%-50% (kĩ thuật ghép da bằng dụng cụ bấm). Khâu trực tiếp các hố nhỏ sau khi bấm sẹo rất dễ đưa đến làm xấu và làm sẹo rộng ra, trừ khi khâu bằng mũi khâu trong da. Việc sử dụng kĩ thuật peel tại chỗ bằng trichloroacetic acid (kỹ thuật CROSS) ở nồng độ cao (60%-100%) [89], đặc biệt trong điều trị sẹo ice pick luôn khó khăn. Kỹ thuật này đòi hỏi phải điều trị nhiều lần cho đến khi trung tâm mỗi sẹo trở nên phẳng, về cơ bản là tạo sẹo bên trong lỗ sẹo có thể giúp sẹo nhìn thẩm mỹ hơn.Sẹo loạn dưỡng có thể được điều trị bằng cách cắt trực tiếp theo hình elip hoặc đường đứt gãy và thậm chí cắt theo các hình “M”, “Z”, hoặc “W” [90].
Trong điều trị dấu lõm da, thì mỡ là chất liệu làm đầy rất tốt vì nó rẻ và sẵn có. Kỹ thuật này còn được gọi là lipofilling (cấy mỡ), phương pháp này không gây ra phản ứng dị ứng hay phản ứng đào thải. Cấy mỡ có thể là phương pháp tạo hình vĩnh viễn (hơn 50% mỡ được cấy sẽ sống sót), và nếu được cấy đúng cách nó có thể mang lại hiệu quả chỉnh sửa tự thân chính xác và lâu dài [91]. Có thể làm tăng hiệu quả điều trị bằng cách phối hợp phương pháp này với hầu hết các kỹ thuật khác như kỹ thuật tái tạo bề mặt hay cắt đáy sẹo. Mỡ sẽ được tiêm thông qua một vết rạch nhỏ được tạo ra bằng kim (Nokor, Becton Dickinson), dao 11 G hoặc các dụng cụ tương tự. Để có thể đạt được sự chỉnh sửa chính xác, có thể tiến hành cắt đáy sẹo để giải phóng mô sẹo khỏi dính với lớp mô sâu phía dưới. Nếu mỡ còn dư thừa có thể đông cứng và có thể sử dụng trong ít nhất 12 tháng sau khi lấy.
Hầu hết các bệnh nhân sẹo trứng cá có thể áp dụng thêm các thủ thuật làm đầy sẹo thêm sau 3 tháng làm thủ thuật. Chỉ nên chỉnh sửa quá mức dưới 10%. Quá trình lão hóa da làm năng thêm tình trạng sẹo lõm và khiến bệnh nhân tìm kiếm các phẫu thuật chỉnh sửa. Polylactic acid và hyaluronic acid có thể được sử dụng để làm đầy sẹo lõm nếu không có sẵn mỡ.
Tài liệu tham khảo:
1. Kromayer E. Kosmetische resultate bei anwedung des stanverfahrens. Dermatol Wochenschr.
1935;101:1306.
2. Pereira Duquia R, da Silva Dos Santos I, de Almeida H Jr, Martins Souza PR, de Avelar Breunig J,
Zouboulis CC. Epidemiology of acne vulgaris in 18-year-old male army conscripts in a South Brazilian
City. Dermatology. 2017;233(2–3):145–54.
3. Chernyshov PV, Zouboulis CC, Tomas-Aragones L et al. Quality of life measurement in acne. Position
Paper of the European Academy of Dermatology and Venereology Task Forces on Quality of Life and
Patient Oriented Outcomes and Acne, Rosacea and Hidradenitis Suppurativa. J Eur Acad Dermatol
Venereol. 2018;32(2):194–208.
4. França K, Keri J. Psychosocial impact of acne and postinammatory hyperpigmentation. An Bras
Dermatol. 2017;92(4):505–9.
5. Liu CW, Reed A, Sisic M, Tan J. Reconsidering accuracy of acne self-reports. J Cutan Med Surg.
2017;21(4):359.
6. Fulton JE. Dermabrasion, chemabrasion and laser abrasion. Dermatol Surg. 1996;22:619–28.
7. Lauermann FT, Almeida HL Jr, Duquia RP, Souza PR, Breunig Jde A. Acne scars in18-year-old
male adolescents: A population-based study of prevalence and associated factors. An Bras Dermatol.
2016;91(3):291–5.
8. Skroza N, Tolino E, Proietti I et al. Women and acne: Any difference from males? A review of the
literature. G Ital Dermatol Venereol. 2016;151(1):87–92.
9. Plewig G, Fulton JE, Kligman AM. Pomade acne. Arch Derm. 1970;101(5):580–4.
10. Institute of Medicine. Unequal Treatment: Confronting Racial and Ethnic Disparities in Healthcare.
Summary. Washington, DC: National Academies of Sciences, 2003.
11. Grimes PR, Stockton T. Pigmentary disorders in blacks. Dermatol Clin. 1988;6:271–81.
12. Kelly AP. Keloids: Pathogenesis and treatment. Cosmetic Derm. 2003;16:29–32.
13. US Census Bureau. Population Projections Program, Washington D.C. Table NP-T5-B (middle series
projections). January 13, 2000.
14. Tan J, Kang S, Leyden J. Prevalence and risk factors of acne scarring among patients consulting
dermatologists in the Unites States. J Drugs Dermatol. 2017;16(2):97–102.
15. Kromayer E. Die Heilung der Akne durch ein neues narbenloses Operationverfahren. Munchen Med
Wochenschr. 1905;52:943.
16. Kromayer E. Rotationsinstrurnente. Ein neues technisches. Veffahren in der dermatologischen
Kieinchirurgie. Dermatol Z. 1995;12:26.
17. Kromayer E. Die Heilung der Akne durch ein neues narbenloses. Operationsverfahren: Das Stanzen.
Illustr Monatsschr Aerztl Polytech. 1905;27:101.
18. Aronsson A, Erifsson T, Jacobsson S et al. Effects of dermabrasion on acne scarring: A review and a
study of 25 cases. Acta Derm Venereol. 1997;77:39–42.
19. LeVan P. Mechanical method of freezing the skin for surgical planing. Arch Dermatol Syph.
1954;69:739–41.
20. Goodman GJ, Richards S. The treatment of facial wrinkles and scars. Mod Med. 1994;37:50–63.
21. Eller JJ, Wolff S. Skin peeling and scarication. JAMA. 1941;116:934–8.
22. Alster TS, West TB. Resurfacing of atrophic facial acne scars with a high-energy, pulsed carbon dioxide
laser. Dermatol Surg. 1996;22:151–5.
23. Walia S, Alster TS. Prolonged clinical and histological effects from laser resurfacing of atrophic acne
scars. Dermatol Surg. 1999;25:926–30.
24. Jeong TJ, Kye YC. Resurfacing of pitted facial acne scars with a long-pulsed Er:YAG laser. Dermatol
Surg. 2001;27:107–10.
25. Cho SI, Kim YC. Treatment of atrophic facial scars with combined use of high-energy pulsed CO2 laser
and Er:YAG laser. Dermatol Surg. 1999;25:959–64.
26. Orentreich DS, Orentreich N. Subcutaneous incision less (subcision) surgery for the correction of
depressed scars and wrinkles. Dermatol Surg. 1995;21:543–9.
27. Arouete J. Correction of depressed scars on the face by a method of elevation. J Dermatol Surg Oncol.
1976;2:337–9.
28. Klein AW. Implantation techniques for injectable collagen. J Am Acad Dermatol. 1983;9:224–8. 172 Acne Scars
29. Selmanowitz VJ, Orentreich N. Medical grade uid silicone: A monographic review. J Dermatol Surg Oncol. 1977;3:597–611.
30. Moritz DL. Surgical corrections of acne scars. Dermatol Nurs. 1992;4:291–9.
31. Fernandes D. Minimally invasive percutaneous collagen induction, oral and maxillofacial. Surg Clin N Am. 2005;17:51–63.
32. Fabbrocini G, Fardella N, Monfrecola A, Proietti I, Innocenzi D. Acne scarring treatment using skin needling. Clin Exp Dermatol 2009;34(8):874–9.
33. Forbat E, Ali FR, Al-Niaimi F. The role of llers in the management of acne scars. Clin Exp Dermatol.April 10, 2017. doi: 10.1111/ced.13058.
34. Jacob CI, Dover JS, Kaminer MS. Acne scarring: A classication system and review of treatment options. J Am Acad Dermatol. 2001;45(1):109–17.
35. Whang KK, Lee M. The principle of a three-staged operation in the surgery of acne-scars. J Am Acad Dermatol. 1999;40:95–7.
36. Cooper AJ, Harris VR. Modern management of acne. Med J Aust. 2017;206(1):41–5.
37. Stal S, Hamilton S, Spira M. Surgical treatment of acne scars. Clin Plast Surg. 1987;14:261–76.
38. Orentreich D, Orentreich N. Acne scar revision update. Dermatol Clin. 1987;5:359–68.
39. Alster TS, West TB. Treatment of scars: A review. Ann Plast Surg. 1997;39:418–32.
40. Solish N, Raman M, Pollack SV. Approaches to acne scarring: A review. J Cutan Med Surg. 1998;2:24–32.
41. Cohen BE, Brauer JA, Geronemus RG. Acne scarring: A review of available therapeutic lasers. Lasers
Surg Med. 2016;48(2):95–115.
42. Kadunc BV, Trindade de Almeida AR. Surgical treatment of facial acne scars based on morphologic
classication: A Brazilian experience. Dermatol Surg. 2003;29(12):1200–9.
43. Strauss JS. Sebaceous glands. In: Dermatology in General Medicine. 4th ed. Fitzpatrick TB, Eisen AZ,
Wolff K, Freedburg IM, Austen KF, eds. New York: McGraw-Hill, 1993, 709–26.
44. Goodman GJ. Postacne scarring: A review of its pathophysiology and treatment. Dermatol Surg.
2000;26:857–71.
45. Webster GF, Leyden JJ, Nilsson UR. Complement activation in acne vulgaris: Consumption of
complement by comedones. Infect Immun. 1979;26:183–6.
46. Tucker SB, Rogers RS, Winkelmann RK et al. Inammation in acne vulgaris: Leukocyte attraction and
cytotoxicity by comedonal material. J Invest Dermatol. 1980;74:21–5.
47. Tan J, Bourdès V, Bissonnette R, Petit B Eng L, Reynier P, Khammari A, Dreno B. Prospective study of
pathogenesis of atrophic acne scars and role of macular erythema. J Drugs Dermatol. 2017;16(6):566–72.
48. Knutson D. Ultrastructural observations in acne vulgaris: The normal sebaceous follicle and acne lesions.
J Invest Dermatol. 1974;62:288–307.
49. Goodman GJ, Baron JA. The management of post-acne scarring. Dermatol Surg. 2007;33:1175–88.
50. Lupton JR, Alster TS. Laser scar revision. Dermatol Clin. 2002;20:55–65.
51. Chen KH, Tam KW, Chen IF, Huang SK, Tzeng PC, Wang HJ, Chen CC. A systematic review of
comparative studies of CO(2) and erbium:YAG lasers in resurfacing facial rhytides (wrinkles). J Cosmet
Laser Ther. 2017;19(4):199–204.
52. Sebaratnam DF, Lim AC, Lowe PM, Goodman GJ, Bekhor P, Richards S. Lasers and laser-like devices:
Part two. Australas J Dermatol. 2014;55(1):1–14.
53. Stratigos AJ, Katsambas AD. Optimal management of recalcitrant disorders of hyperpigmentation in
dark-skinned patients. Am J Clin Dermatol. 2004;5:161–8.
54. Goldman MP. The use of hydroquinone with facial laser resurfacing. J Cutan Laser Ther. 2000;2:73–7.
55. Stoddard MA, Herrmann J, Moy L, Moy R. Improvement of atrophic acne scars in skin of color
using topical synthetic epidermal growth factor (EGF) serum: A pilot study. J Drugs Dermatol.
2017;16(4):322–6.
56. Cuce LC, Bertino MC, Scattone L, Birkenhauer MC. Tretinoin peeling. Dermatol Surg. 2001;27:12–4.
57. Wang CM, Huang CL, Hu CT, Chan HL. The effect of glycolic acid on the treatment of acne in Asian
skin. Dermatol Surg. 1997;23(1):23–9.
58. Stewart N, Lim AC, Lowe PM, Goodman G. Lasers and laser-like devices: Part one. Australas J
Dermatol. 2013;54(3):173–83.
59. O’Connor AA, Lowe PM, Shumack S, Lim AC. Chemical peels: A review of current practice. Australas
J Dermatol. October 24, 2017. doi: 10.1111/ajd.12715.
60. Callender VD. Considerations for treating acne in ethnic skin. Cutis. 2005;76(2 Suppl):19–23. Treatment Algorithm for Acne Scars 173
61. Bekhor PS. The role of pulsed laser in the management of cosmetically signicant pigmented lesions.
Australas J Dermatol 1995;36:221–3.
62. Chan H. The use of lasers and intense pulsed light sources for the treatment of acquired pigmentary
lesions in Asians. J Cosmet Laser Ther. 2003;5:198–200.
63. Roxo RF, Sarmento DF, Kawalek AZ, Spencer JM. Successful treatment of a hypochromic scar with
manual dermabrasion: Case report. Dermatol Surg. 2003;29:189–91.
64. Mulekar SV. Long-term follow-up study of segmental and focal vitiligo treated by autologous, noncultured
melanocyte-keratinocyte cell transplantation. Arch Dermatol. 2004;140:1211–15.
65. Stoner ML, Wood FM. The treatment of hypopigmented lesions with cultured epithelial autograft. J Burn
Care Rehabil. 2000;21:50–4.
66. Swinehart JM. Pocket grafting with dermal grafts: Autologous collagen implants for permanent
correction of cutaneous depressions. Am J Cosmet Surg. 1995;12:321–31.
67. Goodman GJ. Blood Transfer: The use of autologous blood as a chromophore and tissue augmentation
agent. Dermatol Surg. 2001;27:857–62.
68. El-Domyati M, Hosam W, Abdel-Azim E, Abdel-Wahab H, Mohamed E. Microdermabrasion: A clinical,
histometric, and histopathologic study. J Cosmet Dermatol. 2016;15(4):503–13.
69. Bonati LM, Epstein GK, Strugar TL. Microneedling in all skin types: A review. J Drugs Dermatol.
2017;16(4):308–13.
70. Bernstein EF, Schomacker KT, Basilavecchio LD, Plugis JM, Bhawalkar JD. Treatment of acne scarring
with a novel fractionated, dual-wavelength, picosecond-domain laser incorporating a novel holographic
beam-splitter. Lasers Surg Med. 2017;49(9):796–802.
71. Manstein D, Herron GS, Sink RK et al. Fractional photothermolysis: A new concept for cutaneous
remodeling using microscopic patterns of thermal injury. Lasers Surg Med. 2004;34:426–38.
72. Kim KH, Geronemus RG. Nonablative laser and light therapies for skin rejuvenation. Arch Facial Plast
Surg. 2004;6:398–409.
73. Elcin G, Yalici-Armagan B. Fractional carbon dioxide laser for the treatment of facial atrophic acne
scars: Prospective clinical trial with short and long-term evaluation. Lasers Med Sci. 2017;32(9):2047–54.
74. Crispin MK, Hruza GJ, Kilmer SL. Lasers and energy-based devices in men. Dermatol Surg. 2017;43
Suppl 2:S176–S184.
75. Chua SH, Ang P, Khoo LS, Goh CL. Nonablative 1450 nm diode laser in the treatment of facial
atrophic acne scars in type IV to V Asian skin: A prospective clinical study. Dermatol Surg.
2004;30:1287–91.
76. Goldberg DJ. Nonablative dermal remodeling (does it really work?). Arch Dermatol. 2002;138:1366–7.
77. Trelles MA, Allones I, Luna R. Facial rejuvenation with a nonablative 1320 nm Nd:YAG laser: A
preliminary clinical and histologic evaluation. Dermatol Surg. 2001;27:111–6.
78. Fatemi A, Weiss MA, Weiss RA. Short-term histologic effects of nonablative resurfacing: Results with
a dynamically cooled millisecond-domain 1320 nm Nd:YAG laser. Dermatol Surg. 2002;28:172–6.
79. Tenna S, Cogliandro A, Barone M, Panasiti V, Tirindelli M, Nobile C, Persichetti P. Comparative study
using autologous fat grafts plus platelet-rich plasma with or without fractional CO(2) laser resurfacing
in treatment of acne scars: Analysis of outcomes and satisfaction with FACE-Q. Aesthetic Plast Surg.
2017;41(3):661–6.
80. Yu PX, Diao WQ, Qi ZL, Cai JL. Effect of Dermabrasion and ReCell(®) on large supercial facial scars
caused by burn, trauma and acnes. Chin Med Sci J. 2016;31(3):173–9.
81. Chen KH, Tam KW, Chen IF, Huang SK, Tzeng PC, Wang HJ, Chen CC. A systematic review of
comparative studies of CO(2) and erbium:YAG lasers in resurfacing facial rhytides (wrinkles). J Cosmet
Laser Ther. 2017;19(4):199–204.
82. Juhász ML, Levin MK, Marmur ES. A review of available laser and intense light source home devices:
A dermatologist’s perspective. J Cosmet Dermatol. 2017;16(4):438–43.
83. Faghihi G, Poostiyan N, Asilian A, Abtahi-Naeini B, Shahbazi M, Iraji F, Fatemi Naeini F, Nilforoushzadeh
MA. Efcacy of fractionated microneedle radiofrequency with and without adding subcision for the
treatment of atrophic facial acne scars: A randomized split-face clinical study. J Cosmet Dermatol.
2017;16(2):223–9.
84. Sadick N, Alexiades-Armenakas M, Bitter P, Hruza G, Mulholland S. Enhanced full-face skin
rejuvenation using synchronous intense pulsed optical and conducted, bipolar radiofrequency energy
(ELOS): Introducing selective radiophotothermolysis. J Drugs Dermatol. 2005;4:181–6. 174 Acne Scars
85. Barbaric J, Abbott R, Posadzki P, Car M, Gunn LH, Layton AM, Majeed A, Car J. Light therapies
for acne: Abridged Cochrane systematic review including GRADE assessments. Br J Dermatol. 2018;178(1):61–75.
86. Stevenson ML, Karen JK, Hale EK. Laser-assisted photodynamic therapy: Two novel protocols for
enhanced treatment results. J Drugs Dermatol. 2017;16(4):329–31.
87. Orentreich DS. Punch graft. In: Principles and Techniques of Cutaneous Surgery. Lask GP, Moy RL,
eds. New York: McGraw-Hill, 1996, 283–95.
88. Johnson WC. Treatment of pitted scars: Punch transplant technique. J Dermatol Surg Oncol.
1986;12:260–5.
89. Lee JB, Chung WG, Kwahck H, Lee KH. Focal treatment of acne scars with trichloroacetic acid:
Chemical reconstruction of skin scars method. Dermatol Surg. 2002;28:1017–21.
90. Kroep L, Emer JJ. Combination therapy for acne scarring: Personal experience and clinical suggestions.
J Drugs Dermatol. 2016;15(11):1413–19.
91. Ellenbogen R. Invited comment on autologous fat injection. Ann Plast Surg. 1990;24:297.
92. Ersek RA. Transplantation of puried autologous fat: A 3-year follow up is disappointing. Plast Reconstr
Surg. 1991;87:219–27.
93. Ogawa R. Keloid and hypertrophic scars are the result of chronic inammation in the reticular dermis.
Int J Mol Sci. 2017;18(3).
94. Signorini M, Clementoni MT. Clinical evaluation of a new self-drying silicone gel in the treatment of
scars: A preliminary report. Aesthetic Plast Surg. 2007;31(2):183–7.
95. Roques C, Téot L. The use of corticosteroids to treat keloids: A review. Int J Low Extrem Wounds.
2008;7(3):137–45.
96. Uppal RS, Khan U, Kakar S et al. The effects of a single dose of 5-uorouracil on keloid scars: A clinical
trial of timed wound irrigation after extralesional excision. Plast Reconstr Surg. 2001;108:1218–24.
97. Wendling J, Marchand A, Mauviel A, Verrecchia F. 5-Fluorouracil blocks transforming growth factor-
beta-induced alpha 2 type I collagen gene (COL1A2) expression in human broblasts viac-Jun NH2-
terminal kinase/activator protein-1 activation. Mol Pharmacol. 2003;64:707–13.
98. Alster TS, Williams CM. Treatment of keloid sternotomy scars with 585 nm ashlamp-pumped pulsed-
dye laser. Lancet. 1995;345:1198–2000.
99. Rusciani L, Paradisi A, Alfano C et al. Cryotherapy in the treatment of keloids. J Drugs Dermatol.
2006;5(7):591–5.
100. Annacontini L, Parisi D, Maiorella A et al. Long-term follow-up in the treatment of keloids by
combined surgical excision and immediate postoperative adjuvant irradiation. Plast Reconstr Surg.
2008;121(2):700–1.
101. Arons JA. The results of surgical excision and adjuvant irradiation for therapy-resistant keloids: A
prospective clinical outcome study. Plast Reconstr Surg. 2008;121(2):685–6.
102. Copcu E, Sivrioglu N, Oztan Y. Combination of surgery and intralesional verapamil injection in the
treatment of the keloid. J Burn Care Rehabil. 2004;25:1–7.
103. Berman B, Villa A. Imiquimod 5% cream for keloid management. Dermatol Surg. 2003;29:1050–1.
104. Holland DB, Jeremy AH, Roberts SG et al. Inammation in acne scarring: A comparison of the responses
in lesions from patients prone and not prone to scar. Br J Dermatol. 2004;150:72–81.
105. Gillard JA, Reed MW, Buttle D et al. Matrix metalloproteinase activity and immunohistochemical prole
of matrix metalloproteinase-2 and -9 and tissue inhibitor of metalloproteinase-1 during human dermal
wound healing. Wound Repair Regen. 2004;12:295–304.
106. Ogawa R, Akaishi S. Endothelial dysfunction may play a key role in keloid and hypertrophic
scar pathogenesis—Keloids and hypertrophic scars may be vascular disorders. Med Hypotheses.
2016;96:51–60.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét