SẸO TRỨNG CÁ Ở BỆNH NHÂN CHÂU Á (PHẦN 1)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Đọc thêm: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á (Phần 2)
GHI NHỚ
- Mụn trứng cá vẫn là nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh nhân châu Á phải đến gặp bác sĩ da liễu để khám tư vấn.
- Sẹo trứng cá là hậu quả thường thấy của mụn trứng cá khi không được điều trị, thậm chí đối với người Châu Á.
- Điều trị sớm tất cả các loại mụn trứng cá có thể giúp dự phòng sẹo.
- Một số phương pháp để điều trị sẹo trứng cá có thể áp dụng cho các bệnh nhân Châu Á và hiệu quả điều trị rất khác nhau giữa các phương pháp này.
Giới thiệu
Người châu á thuộc chủng tộc da nâu [1] và được nhận diện như là những người có da màu [2], là chủng người không đồng nhất về gen khi xem xét đến các yếu tố như di cư và hôn nhân khác chủng tộc [1]. Phân loại da phổ biến của người Châu Á là thuộc nhóm IV-V theo Fitzpatrick và phân loại IV theo Lancer Ethnicity Scale [1,3], hiện nay da người châu Á nằm trong nhóm II-V với tone màu da khác nhau từ sắc nâu sáng nhất đến sắc nâu tối nhất [4].Mụn trứng cá và những hậu quả của nó như tăng sắc tố sau viêm (PIH) và sẹo là những vấn đề không hiếm gặp ở người châu Á. Do đó trong thực hành da liễu, cần phải cố gắng điều trị mụn trứng cá bất kể đang ở giai đoạn nào. Vì dân cư châu Á có nhiều nền văn hóa và niềm tin khác nhau, một số niềm tin đã khiến quá trình điều trị bị trì hoãn. Tuy nhiên, tại thời điểm chúng tôi viết chương này 7 năm về trước, nhận thức của phần lớn người châu Á đã tăng lên rất nhiều do sợ hậu quả của mụn trứng cá khi không được điều trị. Do đó, ngày càng có nhiều bệnh nhân đến để được tư vấn điều trị mụn trứng cá ở hầu hết các bệnh viện và phòng khám ở châu Á.
Mụn trứng cá ở người châu Á: Có gì mới trong những nghiên cứu gần đây
Mỗi chủng tộc có nhiều bệnh da đặc thù riêng [2] nhưng mụn trứng cá là bệnh da phổ biến đối với tất cả các chủng tộc, bao gồm cả người châu Á. Nó được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh nhân tìm kiếm sự tư vấn và điều trị từ các bác sĩ da liễu [2,4-6].Từ năm 2011 đến 2016, thống kê có hơn 475967 cuộc tư vấn ở 11 cơ sở đào tạo của Hội bác sĩ Da liễu Philippine; trong số đó có 45085 (9.47%) bệnh nhân Filipino đến khám và điều trị trứng cá và trong đó số bệnh nhân là các trường hợp mới đi khám là 32948 (6.9%). 2/3 bệnh nhân là nữ và chỉ 1/3 bệnh nhân là nam, các bệnh nhân có độ tuổi từ dưới 1 tuổi cho đến 67 tuổi [7]. Phần lớn bác sĩ Filipino khám ít nhất 10 bệnh nhân mụn trứng cá mỗi tuần với nhiều loại và mức độ khác nhau tại các clinic của họ. Điều này đã khiến mụn trứng cá trở thành một trong những nguyên nhân phổ biến khiến bệnh nhân tìm đến bác sĩ da liễu (Handog EB, không được công bố dữ liệu).
Tương tự, trong các nghiên cứu tiến hành ở Singapore, mụn trứng cá luôn nằm trong 10 bệnh phổ biến nhất khiến bệnh nhân phải tìm kiếm sự điều trị [8-10]. Một nghiên cứu dịch tễ được tiến hành trong 10 năm (2004-2013) trên đối tượng thanh niên (<25 tuổi) và người trưởng thành (≥ 25 tuổi) bị mụn được tiến hành tại Singapore bởi Han và các cộng sự [11]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mụn trứng cá ngày càng tăng và ở bệnh nhân nữ luôn cao hơn so với bệnh nhân nam. Tuy nhiên, phân tích từng nhóm đối tượng cho thấy trong nhóm đối tượng thanh niên (<25 tuổi) thì tỉ lệ bệnh nhân nam lại cao hơn (61.3% nam so với 38.8% nữ). Mụn trứng cá ở nhóm người trưởng thành chiếm 30% các trường hợp mụn trứng cá với tỉ lệ nữ cao hơn so vơi nam (69.0% nữ và 31.0% nam). Trong các loại sẹo, dạng nhân mụn (comedonal acne) thường được thấy nhiều hơn ở đối tượng thanh niên và nang mụn thì lại thấy nhiều ở nhóm người trưởng thành (≥ 25 tuổi). Điểm thú vị là 40.5% những người bị mụn ở tuổi trưởng thành là do tình trạng mụn kéo dài từ độ tuổi thanh niên. Trong các bệnh nhân ở độ tuổi trưởng thành do mụn trứng cá kéo dài từ thời thanh niên hoặc mới khởi phát, thì mụn trứng cá ở thân mình thường xuất hiện ở nhóm bệnh nhân có mụn kéo dài từ thời thanh niên, và mụn mủ thường thấy ở nhóm mới khởi phát. Singapore là một ví dụ điển hình của một quốc gia đa chủng tộc người châu Á (ví dụ: Trung Quốc, Malaysia, Ấn độ). Mặc dù các nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng các ca bị mụn trứng cá ở tất cả các chủng tộc, nhưng Trung Quốc là nước có tỉ lệ mụn trứng cá cao nhất.
Một nghiên cứu về mụn trứng cá ở Nepal được công bố gần đây
[12] cho thấy có tỉ lệ mụn trứng cá thấp ở mức 1.068%. Các bệnh nhân có độ tuổi từ 13 đến 45 tuổi, trong đó bệnh nhân trong nhóm 16-20 tuổi chiếm nhiều hơn (độ tuổi trung bình là 19.78 năm). Mặc dù tỉ lệ nam/nữ chung là 1.25:1, tuy nhiên ở nhóm tuổi lớn hơn nữ giới có tỉ lệ mụn cao hơn và bị nặng hơn. Thời gian kéo dài của mụn từ 1 tháng đến 25 năm, trung bình là 45.55 tháng. Tương tự với các nghiên cứu khác, các bệnh nhân người Nepal có thời gian bị mụn dài hơn và bị mụn nặng hơn. Mụn chủ yếu tập trung ở mặt, nhưng cũng xuất hiện ở vùng lưng, ngực và cổ. Mụn comedone được quan sát thấy ở tất cả bệnh nhân và tỉ lệ sang thương mụn không viêm/ viêm là 8.55:1.Một nghiên cữu dịch tễ đa trung tâm về mụn ở Hàn Quốc trên 1236 bệnh nhân [13] cho thấy tỉ lệ nam/nữ là 1:1.6 trong đó tỉ lệ nữ cao hơn trong nhóm người lớn tuổi (19-35 tuổi) và thời gian bị mụn dài hơn (trung bình 7.7 năm). Mụn trứng cá ở mặt ảnh hưởng đến cả hai giới, tuy nhiên mụn ở vùng quanh miệng ưu thế hơn ở giới nữ. Trong các bệnh nhân nam, mụn tập trung phổ biến ở vùng mũi, cổ, ngực và lưng. Một nghiên cứu đa trung tâm thực hiện trong 10 năm (2004-2013) trên 180782 bệnh nhân mụn trứng cá được tiến hành bởi Hiệp hội nghiên cứu Mụn trứng cá Hàn Quốc cũng cho thấy nữ giới có tỉ lệ mụn cao hơn. Trong đó, mụn trứng cá ở người lớn (>18 tuổi) vẫn chiếm đa số (83.8%) và 14.4 % mụn trứng cá ở nhóm tuổi thanh niên (13-18 tuổi). Mụn trứng cá trẻ em (<13 tuổi) chiếm tỉ lệ 1.8% với tỉ lệ nam/nữ là 4:6. Trong nghiên cứu 10 năm, tổng số lượng bệnh nhân bị mụn trứng cá tăng 60% và các tác giả cho rằng tỉ lệ tăng này liên quan đến sự tăng nhận thức của người dân Hàn Quốc về mụn trứng cá và các biến chứng của nó.
Điểm thú vị cần lưu ý đó là các nghiên cứu về mụn trứng cá được thực hiện ở người châu Á đã sử dụng các hệ thống thang điểm đánh giá độ nặng khác nhau [12,15-17]. Do đó không có sự thống nhất về cách đánh giá và phân loại độ nặng của mụn trứng cá, thậm chí giữa các chuyên gia. Mặc dù mỗi phân loại đều dựa trên nền tảng chung, nhưng do sử dụng các thang điểm và các thuật ngữ khác nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn.
Không bao giờ được xem thường ảnh hưởng tâm lí của mụn trứng cá [6,15,17-20]. Trong 429 bệnh nhân Singapore, độ tuổi từ 17-35, thì có hơn một nữa cảm thấy ngại ngùng và tự nhận thức được về tình trạng mụn trứng cá của bản thân và một phần ba số bệnh nhân cho rằng mụn trứng cá gây cản trở các hoạt động xã hội và giải trí của họ [6]. Hơn nữa, khả năng am hiểu về mức độ nặng của mụn trứng cá ở mỗi người cũng rất khác với đánh giá thực tế của các bác sĩ, điều này cũng đã ảnh hưởng đến lượng người tìm kiếm sự điều trị [6,15].
Sinh bệnh học của mụn trứng cá đã được biết đến là do nhiều yếu tố tạo thành và điều này đúng đối với tất cả các chủng tộc và dân tộc trên thế giới [4,6]. Người châu Á có thể bị tất cả các dạng mụn trứng cá với nhiều mức độ khác nhau, tuy nhiên mụn trứng cá nặng dạng nang, nốt ít gặp hơn [21] và tăng sắc tố sau viêm (PIH) luôn là hậu quả nổi bật của mụn trứng cá trên đối tượng này [4,5,12,15,16,21-23].
Sẹo trứng cá ở người châu Á: các dữ liệu nói lên điều gì
Sẹo là hậu quả đáng sợ của mụn trứng cá và có thể xuất hiện dù bệnh nhân có mức độ trứng cá nặng như thế nào [24]. Nếu như mụn trứng cá ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân, thì mức độ ảnh hưởng của sẹo trứng cá đến chất lượng sống còn nặng nề hơn [25]. Mụn trứng cá viêm nếu không được điều trị hoặc trì hoãn điều trị thì sẽ đưa đến hậu quả bị sẹo (hình 14.1 và 14.2). Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sẹo trứng cá có thể xất hiện thậm chí đối với các tổn thương mụn không viêm hoặc ở mụn trứng cá mức độ nhẹ [24-27].Sẹo trứng cá thường tồn tại đồng thời với các tổn thương mụn trứng cá ở nhiều bệnh nhân Filipino. Các bác sĩ da liễu ở Philiphin có thể bắt gặp hầu hết các loại sẹo ở các bệnh nhân, trong đó chủ yếu là dạng sẹo lõm. Các sẹo này hầu hết được điều trị bằng laser và ánh sáng, peel hóa chất và lăn kim. Ngược lại, sẹo phì đại thường được điều trị bằng tiêm corticosteroid kèm hoặc không kèm phối hợp điều trị với laser & ánh sáng và kem bôi silicon. Biến chứng tăng sắc tố sau mụn chiếm phần lớn so với mất sắc tố. Phương pháp peel da bằng hóa chất sử dụng các loại acid như trichloroacetic acid (TCA), glycolic hoặc salicylic acid là lựa chọn thường thấy để điều trị sẹo trứng cá. Thủ thuật này có thể được tiến hành một đến 2 lần mỗi tháng và hầu hết bệnh nhân có thể thấy được sự cải thiện bề mặt đa đến 50% (Handog EB, dữ liệu không được công bố).
Sẹo trứng cá dạng sẩn xuất hiện ở mũi và cằm được xem như là một thể sẹo khác biệt, khác với cả sẹo ly giải mô đàn hồi được thấy chủ yếu ở ngực và thân [31,32]. Loại sẹo này không thường thấy ở các bệnh nhân người châu Á. Tuy nhiên, nếu điều trị loại sẹo này bằng laser CO2 xâm lấn hoặc đốt điện có thể gây mất sắc tố. Lee và các cộng sự [33] đã báo cáo 2 trường hợp nữ người Hàn, 30 tuổi và 20 tuổi, được điều trị theo phương pháp đục lỗ kim bằng laser Er: YAG (Erbium: yttrium-aluminum garnet) kèm với đắp gặc thấm hydrocolloid trong 1 tuần sau điều trị. Trường hợp đầu tiên cho kết quả thẩm mỹ tốt với chỉ 1 lần điều trị và không có dấu hiệu tái phát thậm chí là ở thời điểm 1 năm sau laser. Trường hợp thứ 2 cần 2 lần điều trị với khoảng cách 1 tháng và cũng cho hiệu quả điều trị rất tốt.
Gần đây, Chaudhary và các cộng sự của mình [34] đã so sánh hiệu quả điều trị của các loại peel da khác nhau với các thủ thuật phẫu thuật để để điều trị sẹo trứng cá ở 80 bệnh nhân Ấn Độ. Ông nhận thấy rằng tỉ lệ nam/nữ là 1.2:1, trong đó 62% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi thanh niên và thời gian bị sẹo trứng cá là từ 2-5 năm. Sẹo boxcar là loại sẹo thường gặp nhất, tiếp theo lân lượt là sẹo rolling và ice pick. Ông chia các bệnh nhân thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 20 người được tham gia điều trị bởi một trong các phương pháp sau: (A) Tiến hành một chuỗi peel da bằng glycolic acid với nồng độ tăng dần từ 35% đến 70% trong tối thiểu 10 lần, khoảng cách giữa các lần điều trị là 2 tuần, (B) tái tạo cấu trúc sẹo bằng hóa chất (CROSS) TCA 95% mỗi tháng, tối thiểu 4 lần điều trị, (C) lăn kim tối thiểu 3 lần, mỗi lần cách nhau 6 tuần, và (D) cắt đáy sẹo tối thiểu 4 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Kết quả cho thấy phương pháp lăn kim làm giảm điểm sẹo trứng cá nhiều nhất, tiếp theo đó lần lượt là CROSS bằng TCA, cắt đáy sẹo và peel glycolic acid. Hiệu quả điều trị của các phương pháp phẫu thuật cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phương pháp peel hóa chất. Chỉ có 7 trong số 80 bệnh nhân có tác dụng phụ. Các tác dụng phụ này chủ yếu là đỏ da và khối máu tụ do điều trị các thủ thuật phẫu thuật và thay đổi sắc tố do peel hóa chất.
Điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á
Một khi đã hình thành sẹo thì rất khó để điều trị. Dường như không thể khôi phục da trở lại như bình thường. Hiện tại, tất cả các phương pháp điều trị sẹo đều không thể loại bỏ được chúng một cách hoàn toàn được. Phần lớn bệnh nhân lo lắng về tình trạng tăng sắc tố sau viêm (PIH) và đỏ da sau viêm (PIE) (hình 14.6 và 14.7). Ở các phòng khám, hầu hết các bác sĩ ở Châu Á điều trị các vấn đề trên bằng cách sử dụng các chất làm trắng da kết hợp với sử dụng chống nắng hàng ngày. Trên thực tế, PIH có thể tự mất dần theo thời gian.Khi điều trị sẹo trứng cá, cần thiết phải phân biệt được sẹo (lõm và phì đại) với các dát trên da (PIH và PIE). Với các dát trên da, chúng có thể tự lành và mất dần theo thời gian nhưng đối với sẹo lõm, sẹo phì đại và sẹo lồi thì thường tồn tại dai dẵng nếu không được điều trị. Các lựa chọn điều trị bao gồm sử dụng các công nghệ sử dụng năng lượng hoặc không sử dụng năng lượng [35]. Các thiết bị sử dụng năng lượng bao gồm laser xâm lấn và không xâm lấn, thiết bị sóng cao tần RF, IPL, và thiết bị trẻ hóa da plasma. Các công nghệ không sử dụng năng lượng gồm các thủ thuật như cắt đáy sẹo, mài da và vi mài da, lăn kim, filler sẹo và peel hóa chất. Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật, laser cũng như các thiết bị sử dụng năng lượng được ứng dụng để điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á [36].
Hiệu quả điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á rất khác nhau và nằm trong khoảng từ 10 đến 50%. Các biến chứng khi điều trị ít xảy ra. Các bệnh nhân châu Á có thể hình thành sẹo phì đại và sẹo lồi sau điều trị đặc biệt là ở những người có type da tối màu. Tuy nhiên, tăng sắc tố sau viêm (PIH) mới là biến chứng thường gặp nhất sau các thủ thuật điều trị sẹo trứng cá [37,38]. Hơn 40% bệnh nhân châu Á điều trị sẹo trứng cá với laser mạnh mạnh sẽ xuất hiện tăng sắc tố sau viêm ở nhiều mức độ khác nhau. Mặc dù có rất nhiều phương pháp đã được thử để giảm PIH sau điều trị laser, thì việc bôi các chất làm trắng da trước và sau điều trị laser (ví dụ: hydroquinone) vẫn còn đang tranh cãi [39,40]. Tuy nhiên tránh nắng và sử dụng chống nắng luôn tỏ ra hiệu quả trong việc hạn chế hình thành PIH.
Sẹo phì đại và sẹo lồi
Sẹo phì đại thường sẽ tự giảm thể tích dần theo thời gian tuy nhiên sẹo lồi thì tốt nhất phải được điều trị bằng cách tiêm triamcinolone vào sẹo. Phương pháp phẫu thuật thường làm sẹo lồi trở nên xấu hơn.Có thể sử dụng laser xung nhuộm màu (PDL) với chế độ năng lượng thấp nhất (để làm giảm bầm tím nhẹ) để làm giảm thể tích sẹo phì đại. Người ta thấy rằng cấu trúc và tính mềm dẻo của da tăng lên khi mức độ đỏ da giảm xuống [41]. Thiết bị PDL đã được sử dụng bởi các bác sĩ da liễu ở châu Á và tỉ lệ điều trị sẹo phì đại thành công rất khác nhau.
Sẹo lõm
Các kỹ thuật phẫu thuật
Trên mỗi bệnh nhân thường xuất hiện đồng thời cả sẹo ice pick, boxcar và rolling [36] (hình 14.8 và 14.9). Các kĩ thuật phẫu thuật thường được áp dụng để điều trị sẹo lõm gồm cắt đáy sẹo, cắt khâu hình elip hoặc cắt khâu bằng dụng cụ bấm, và thủ thuật bấm nâng sẹo.Thủ thuật cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm hoặc cắt khâu hình elip được áp dụng để điều trị sẹo ice pick và sẹo boxcar đường kính < 3 mm. Thủ thuật này loại bỏ toàn bộ sẹo đến lớp mỡ dưới da bằng dụng cụ bấm sinh thiết sau khi gây tê. Lỗ thủng trên da sau đó được khâu lại bằng chỉ 6-0 và tránh kéo quá căng. Biến chứng thường gặp là để lại sẹo và bị nhiễm trùng.
Bấm nâng sẹo được thực hiện để điều trị sẹo boxcar đường kính >4 mm. Thủ thuật được tiến hành bằng cách cách dùng dụng cụ bấm quanh thành sẹo xuống đến lớp mỡ dưới da. Sẹo sau đó sẹo được nâng lên hơi cao hơn so với mô xung quanh và cố định bằng chỉ hoặc Steri-Strips. Biến chứng của phương pháp này bao gồm sẹo và nhiễm trùng.
Tài liệu tham khảo:
1. Handog EB, Macarayo MJE, Gabriel MTG. Acne scars in Asian patients. In: Acne Scars Classification
and Treatment. Tosti A, De Padova MP, Beer KR, eds. London: Informa UK Ltd, 2010, 90–7.
2. Taylor SC, Kyel A. Dening skin of color. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color 2E.
Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016, 9–14.
3. Enriquez-Macarayo MJ, Handog EB. The concept of brown skin. In: Melasma and Vitiligo in Brown
Skin. Handog EB, Enriquez-Macarayo MJ, eds. India: Springer, 2017, 4.
4. Handog EB, Macarayo, MJE, Datuin MSL. Maritime Southeast Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology
for Skin of Color 2E. Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill
Education, 2016, 650–1.
5. Lim JTE, Choon SE. Mainland Southeast Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color
2E. Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016,
642–3.
6. Su P, Chen Wee Aw D, Lee SH, Han Sim Toh MP. Beliefs, perceptions and psychosocial impact of acne amongst Singaporean students in tertiary institutions. J Dtsch Dermatol Ges. 2015; 13(3):227–33.
7. Philippine Dermatological Society Health Information System Registry. Accessed June 2017.
8. Yeung CK, Teo LHY, Xiang LH, Chan HHL. A community-based epidemiological study of acne vulgaris
in Hong Kong adolescents. Acta Derm Venereol (Stockh). 2002;82:104–7.
9. Chau-Ty G, Goh CL, Koh SL. Pattern of skin diseases at the National Skin Centre (Singapore) from
1989–1990. Int J Dermatol. 1992;31:555–9.
10. Goh CL, Akarapanth R. Epidemiology of skin disease among children in a referral skin clinic in
Singapore. Pediatr Dermatol. 1994;11:125–8.
11. Han XD, Oon HH, Goh CL. Epidemiology of post-adolescence acne and adolescence acne in Singapore:
A 10-year retrospective and comparative study. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2016;30(10):1790–3.
12. Jha BN. To study the prole of acne vulgaris, its seasonal variation, relationship with smoking and
possible correlation between acne vulgaris and markers of androgenecity in females. Adv Res J Life Sci.2016;2(3):1–6.
13. Suh DH, Kim BY, Min SK et al. A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea. Int J
Dermatol. 2011;50:673–81.
14. Park MY, Kim KH, Kang H et al. Analysis of Korean acne patients according to age groups based on two multicenter studies. J Dermatol. 2017;44(2):186–8.
15. Zari S, Turkistani A. Acne Vulgaris in Jeddah Medical students: Prevalence, severity, self-report, and treatment practices. J Cosm Dermatol Sci Applic. 2017;7:67–76.
16. Abad-Casintahan F, Chow SKW, Goh CL et al. Frequency and characteristics of acne-related post-
inammatory hyperpigmentation. J Dermatol. 2016;43:826–8.
17. Tan HH, Tan AWH, Barkham T et al. Community-based study of acne vulgaris in adolescents in
Singapore. Br J Dermatol. 2007;157:547–51.
18. Tan JKL. Psychosocial impact of acne vulgaris: Evaluating the evidence. Skin Therapy Lett. 2004;9(7):1–3.
19. Suh DH, Kim BY, Min SK et al. A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea. Int J
Dermatol. 2011;50:673–81.
20. Yeung CK, Teo LHY, Xiang LH, Chan HHL. A community-based epidemiological study of acne vulgaris
in Hong Kong adolescents. Acta Derm Venereol (Stockh). 2002;82:104–7.
21. Kim IH. Salicyclic acid peel (acne peel). Hong Kong J Dermatol Venereol. 2005;13:83–5.
22. Dainichi T, Ueda S, Imayama S et al. Excellent clinical results with a new preparation for chemical
peeling in acne: 20% salicylic acid in polyethylene glycol vehicle. Dermatol Surg. 2008;34:891–9.
23. Sarkar R, Gokhale N, Sharma S. South Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color 2E.
Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016, 664–5.
24. Tan J, Kang S, Leyden J. Prevalence and risk factors of acne scarring among patients consulting
dermatologists in the United States. J Drugs Dermatol. 2017;16(2):97–102.
25. Layton A, Dreno B, Finlay AY et al. New patient-oriented tools for assessing atrophic acne scarring.
Dermatol Ther (Heidelb). 2016;6(2):219–33.
26. Perkins AC, Cheng CE, Hillebrand GG et al. Comparison of the epidemiology of acne vulgaris among Caucasian, Asian, Continental Indian and African American women. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2011;25:1054–60.136 Acne Scars
27. Tan JK, Tang J, Fung K et al. Development and validation of a Scale for Acne Scar Severity (SCAR-S)
of the face and trunk. J Cutan Med Surg. 2010;14:156–60.
28. Micali G, Francesconi L, Nardone B, Lacarrubba F. Classication of acne scars: a review with clinical
and ultrasound correlation. In: Acne Scars Classification and Treatment. Tosti A, De Padova MP, Beer
KR, eds. London: Informa UK Ltd 2010, 1–7.
29. Rivera A. Acne scarring: A review and current treatment modalities. J Am Acad Dermatol.
2008;59:659–76.
30. Hazarika N, Rajaprabha RK. Assessment of Life Quality Index among patients with acne vulgaris in a suburban population. Indian J Dermatol. 2016;61:163–8.
31. Ali FR, Kirk M, Madan V. Papular acne scars of the nose and chin: An under- recognised variant of acne scarring. J Cutan Aesthet Surg. 2016;9:241–3.
32. Gan SD, Graber EM. Papular scars: An addition to the acne scar classication scheme. J Clin Aesthet
Dermatol. 2015;8:19–20.
33. Lee SJ, Kim JM, Kim YK, Seo SJ, Park KY. The pinhole method using an erbium: YAG laser for the
treatment of papular acne scars. Dermatologic Therapy. 2017;e12512. https://doi.org/10.1111/dth.12512
34. Chaudhary RG, Pitroda HS, Modi KR, Chauhan AP. Comparative outcome study of various chemical peels and surgical procedures in the management of acne scarring. Int J Med Sci Pub Health.
2016;5:1128–33.
35. Kravvas G, Al-Niaimi F. A systematic review of treatments for acne scarring. Part 1: Non-energy-based techniques. Scars, Burns & Healing. 2017;3:1–17.
36. Zaleski-Larsen LA, Fabi SG, McGraw T, Taylor M. Acne scar treatment: A multimodality approach
tailored to scar type. Dermatol Surg. 2016;42(S2):S139–49.
37. Wat H, Wu DC, Chan HH. Fractional resurfacing in the Asian patient: Current state of the art. Lasers Surg Med. 2017;49(1):45–59.
38. Dai R, Xie H, Hua W et al. The efcacy and safety of the fractional radiofrequency technique for the
treatment of atrophic acne scar in Asians: A meta-analysis. J Cosmet Laser Ther. 2017;7:1–8.
39. Duke D, Grevelink JM. Care before and after laser skin resurfacing. A survey and review of literature.Dermatol Surg. 1998;24(2):201–6.
40. Wanitphakdeedecha R, Phuardchantuk R, Manuskiatti W. The use of sunscreen starting on the rst day after ablative fractional skin resurfacing. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2014;28(11):1522–8.
41. Philip Werschler W, Herdener RS, Victor Ross E, Zimmerman E. Treating acne scars: What’s new?
J Clin Aesthet Dermatol. 2015;8(S8):S2–8.
42. Wollina U, Goldman A. Fillers for the improvement in acne scars. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2015
8:493–9.
43. Goldman MP. The use of hydroquinone with facial laser resurfacing. J Cutan Laser Ther. 2000;2(20):73–7.
44. West TB, Alster TS. Effect of pretreatment on the incidence of hyperpigmentation following cutaneous
CO2 laser resurfacing. Dermatol Surg. 1999;25(1):15–17.
45. Goh CL, Khoo L. Laser skin resurfacing treatment outcome of facial scars and wrinkles in Asians with
skin type III/IV with the Unipulse CO2 laser system. Sing Med J. 2002;43(1):28–32.
46. Kim YJ, Lee HS, Son SW et al. Analysis of hyperpigmentation and hypopigmentation after Er:YAG laser
skin resurfacing. Lasers Surg Med. 2005;36(1):47–51.
47. Chua SH, Ang P, Khoo LS, Goh CL. Nonablative 1450-nm diode laser in the treatment of facial atrophic
acne scars in type IV to V Asian skin: A prospective clinical study. Dermatol Surg. 2004;30(10):1287–91.
48. Alexis AF, Coley MK, Nijhawan RI et al. Nonablative Fractional Laser Resurfacing for acne scarring in
patients with Fitzpatrick skin phototypes IV-VI. Dermatolo Surg. 2016;42(3):392–402.
49. Abdel Hay R, Shalaby K, Zaher H et al. Interventions for acne scars. Cochrane Database Syst Rev.
2016;4:CD011946.
50. Qin X, Li H, Jian X, Yu B. Evaluation of the efcacy and safety of fractional bipolar radiofrequency with high-energy strategy for treatment of acne scars in Chinese. J Cosmet Laser Ther. 2015;17(5):237–45.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét