SẸO TRỨNG CÁ Ở BỆNH NHÂN CHÂU Á (PHẦN 2)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Đọc thêm: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á (Phần 1)
Filler sẹo
Có thể sử dụng phương pháp làm đầy da để chỉnh sửa các sẹo trứng cá lõm có thể co giãn nhẹ [42]. Dạng filler sẹo phù hợp đó là filler tạm thời (ví dụ: hyaluronic acid) và filler kéo dài (ví dụ: poly-L-lactic acid và calcium hydroxylapatite). Cấy mỡ tự thân cũng là một sự lựa chọn khác. Thời gian hiệu quả rất khác nhau tùy thuộc vào loại filler được sử dụng. Hyaluronic acid là một sự lựa chọn an toàn trong các chất filler tuy nhiên chất này lại tan nhanh.
Laser, ánh sáng và các thiết bị sử dụng năng lượng
Laser và các thiết bị sử dụng năng lượng đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị sẹo trứng cá với rất nhiều thiết bị được ra đời trong 2 thập kỉ gần đây. Tuy nhiên, không có thiết bị nào có thể hoàn toàn loại bỏ sẹo. Ở bệnh nhân châu Á hiệu quả điều trị sẹo trứng cá nằm trong khoảng thay đổi tối thiểu đến 50 %. Mặc dù đã áp dụng các biên pháp dự phòng như sử dụng các chất làm trắng trước và sau laser nhưng tỉ lệ PIH sau điều trị laser vẫn cao ở người châu Á [43,44].Laser tái tạo bề mặt xâm lấn
Tái tạo bề mặt bằng laser xâm lấn với thiết bị scanner là thủ thuật laser đầu tiên được áp dụng để điều trị sẹo trứng cá. Phương pháp điều trị này đã từng được xem là tiêu chuẩn vàng mang lại hiệu quả cải thiện sẹo tốt nhất từ 50%-60% [45]. Hiện tại nó hiếm khi được sử dụng do thời gian lành vết thương dài và các biến chứng của nó. 2-3 tuần sau thủ thuật, da vẫn còn đỏ và rỉ dịch, điều này làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và tái hoạt herpes. Tình trạng đỏ da thậm chí có thể kéo dài 3-6 tháng sau điều trị. Có hơn 40% bệnh nhân châu Á bị tăng sắc tố sau viêm PIH sau điều trị [46]. Ngoài ra nếu điều trị quá tay có thể làm sẹo xấu hơn và gây mất sắc tố da. Laser xâm lấn phổ biến nhất được sử dụng cho mục đích này là laser CO2 (10600 nm) và Er: YAG (2940 nm). Đốt bốc hơi toàn bộ lớp thượng bì và lớp bì nhú trên có thể dẫn đến quá trình tái tạo làn da khỏe hơn với cấu trúc da được cải thiện. Thường chỉ cần một lần điều trị là đủ. Nếu bệnh nhân mong muốn có sự cải thiện nhiều hơn có thể lặp lại điều trị sau 12 tháng hoặc hơn.Các biến chứng của thủ thuật này gồm đỏ da kéo dài (có thể lên đến 12 tháng), chậm lành, rối loạn sắc tố (PIH và mất sắc tố muộn), mụn thịt, phát ban dạng mụn trứng cá, nhiễm trùng, giãn mạch và sẹo. Những người có tiền sử nhiễm HSV trên mặt nên được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus.
Laser không xâm lấn
Để làm giảm tối đa thời gian lành vết thương và biến chứng của la- ser tái tạo bề mặt xâm lấn, đã có rất nhiều loại laser không xâm lấn ra đời. Những loại laser này gồm laser diode, laser neodymium-doped: YAG và các loại laser không gây tổn thương thượng bì khác. Nhiệt độ được truyền vào lớp bì thông qua chomophore là nước để gây tổn thương lớp bì. Quá trình này sẽ kích thích sản xuất các sợi collagen mới và giúp cải thiện sẹo trứng cá. Trong thủ thuật này, lớp thượng bì được bảo vệ khỏi tổn thương nhiệt nhờ hệ thống làm lạnh bề mặt. Một ví dụ của loại laser này đó là Smoothbeam (1450 nm) và Cooltouch (1320 nm). Tuy nhiên, hiệu quả điều trị rất kém [47] đến nỗi các laser này hiếm khi được sử dụng. Các biến chứng như đỏ da và PIH hiếm khi xảy ra.Laser ly giải quang nhiệt vi điểm
Ly giải quang nhiệt vi điểm ngày nay đang được ưa chuộng và là tiêu chuẩn vàng trong điều trị sẹo trứng cá. Thiết bị này đem lại hiệu quả trung hòa giữa laser tái tạo bề mặt xâm lấn và không xâm lấn trong điều trị sẹo trứng cá. Ly giải quang nhiệt chọn lọc cho phép gây tổn thương lên da một cách có kiểm soát và hiệu quả với thời gian hồi phục ngắn hơn so với laser xâm lấn, nhưng lại có hiệu quả điều trị cao hơn so với laser không xâm lấn. Tuy nhiên, cũng có thể dự đoán được rằng mức độ cải thiện khi dùng thiết bị ly giải quang nhiệt chọn lọc không tốt bằng laser tái tạo bề mặc xâm lấn.Laser vi điểm tạo ra các cột tổn thương gọi là vùng điều trị nhiệt vi điểm (microthermal treatment zones) mà không làm tổn thương mô xung quanh và được gọi là ly giải quang nhiệt vi điểm. Kết quả là vết thương lành nhanh hơn, thời gian phục hồi ngắn hơn và ít nguy cơ xảy ra biến chứng hơn, đặc biệt là biến chứng PIH. Mô da (thượng bì và lớp bì) được đốt xuống sâu hơn (đến lớp bì sâu) bên trong hàng trăm cột nhỏ có đường kính tính bằng micro mét, trong khi các lớp thượng bì và lớp bì giữa các cột nhỏ không hề bị tổn thương và đóng vai trò như nguồn mô bình thường để thúc đẩy quá trình lành vết thương diễn ra nhanh hơn. Thủ thuật này sẽ kích thích tái tổ chức và sản xuất collagen mới ở lớp thượng bì.
Thiết bị ly giải quang nhiệt chọn lọc có thể ở chế độ xâm lấn hoặc không xâm lấn. Chế độ không xâm lấn gây tác dụng ly giải quan nhiệt lên da mà không gây tổn thương nhiệt hoàn toàn tới lớp thượng bì và lớp bì. Có thể quan sát thấy hiện tượng hoại tử đông ở cả 2 lớp của da nhưng một phần lớp thượng bì vẫn còn nguyên vẹn. Những chấn thương này đủ để gây tổn thương collagen lớp bì để kích thích quá trình tân tạo collagen với thời gian hồi phục tương đối ngắn và ít biến chứng. Sau thủ thuật có thể xuất hiện mài và đỏ da tối thiểu. Thời gian hồi phục ngắn cho phép bệnh nhân có thể quay trở lại làm việc sau 3-4 ngày điều trị [48]. Laser erbi- um-doped fiber (1550 nm) và thulium-doped fiber (1927 nm) là hai trong các thiết bị laser tái tạo bề mặt vi điểm, không xâm lấn. Thông thường, bệnh nhân cần khoảng 3 đến 4 lần điều trị với khoảng cách điều trị 1 tháng để đạt được hiệu quả tối ưu.
Thiết bị tái tạo bề mặt vi điểm xâm lấn (ví dụ: laser CO2 vi điểm 10600 nm) được ra đời không lâu ngay sau khi xuất hiện thiết bị tái tạo bề mặt vi điểm không xâm lấn đầu tiên. Người ta tin rằng tổn thương nhiệt đến lớp bì càng lớn thì sẽ kích thích quá trình tân tạo collagen càng mạnh và hiệu quả điều trị sẹo sẹo trứng cá càng cao. Trong laser tái tạo bề mặt xâm lấn, nhiệt lượng tạo ra sẽ phá hủy lớp thượng bì và lớp bì ở mức độ nặng hơn, biểu hiện bằng hiện tượng hoại tử mô và tổn thương dạng cột nhỏ ở cả hai lớp da trên lâm sàng. Do đó, thời gian hồi phục vết thương cũng sẽ dài hơn và nguy cơ biến chứng cao hơn. Mài có thể xuất hiện 1-2 ngày sau điều trị laser và đỏ da có thể kéo dài hơn. Bệnh nhân chỉ có thể quay trở lại làm việc sau 5-7 ngày.
Hiệu quả điều trị giữa laser tái tạo bề mặt vi điểm xâm lấn và không xâm lấn rất khác nhau. Một vài báo cáo cho thấy rằng cả 2 loại laser đều mang lại hiệu quả điều trị như nhau trong khi các báo cáo khác lại cho rằng loại laser xâm lấn có hiệu quả điều trị tốt hơn [49]. Các báo cáo cho thấy hiệu quả sau 3 lần điều trị với laser tái tạo bề mặt vi điểm là từ 20 đến 30%.
Tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm ít gây biến chứng PIH hơn so với laser tái tạo bề mặt xâm lấn, thậm chí đối với da của người châu Á. Nếu có thì PIH xất hiện nhẹ hơn và nhanh biến mất hơn. Do đó, laser vi điểm được xem là phương pháp điều trị an toàn đối với người có kiểu da tối màu. Tỉ lệ PIH sau điều trị laser vi điểm được báo cáo là từ 5-90% ở người châu Á.
Thiết bị RF vi điểm
RF là các sóng điện từ cao tần từ 3 kHz đến 300 GHz. Thiết bị RF lưỡng cực vi điểm phát ra năng lượng để bóc tách nhiệt vi điểm lớp bì, tạo thành các vùng vi điều trị và vùng không được điều trị thông qua các điện cực rất nhỏ khi tiếp xúc với bề mặt da. Sóng RF tạo nhiệt bên dưới thượng bì tại lớp bì trên để làm nóng các sợi collagen ở vùng này. Quá trình này sẽ kích thích sản sinh và tái tổ chức collgen lớp bì trong khi hạn chế tối thiểu tổn thương lên lớp thượng bì. Các ví dụ của thiết bị tái tạo bề mặt RF vi điểm đó là thiết bị eMatrix và eTwo. Để tăng cường hiệu quả và khả năng dẫn truyền năng lượng RF vào lớp bì, người ta có thể gắn các vi kim vào tay cầm của thiết bị để năng lượng RF có thể được dẫn truyền trực tiếp vào lớp bì. Có 2 thiết bị như vậy trên thị trường đó là ePrime và Infiny (Hình 14.10 và 14.11).Lời khuyên
- Có thể kết thúc chương này với những lời khuyên mà chúng tôi đã học được để tồn tại trong quá trình hành nghề bác sĩ da liễu ở châu Á.
- Phòng bệnh hơn chữa bệnh
- Để dự phòng sẹo trứng cá cần phải điều trị mạnh tay mụn trứng cá.
- Mỗi bệnh nhân là một trường hợp riêng biệt dù với bất kì chủng tộc nào. o Khi bệnh nhân mụn trứng cá đến khám phải đánh giá ngay từ lấy
- lịch sử bệnh lí cho đến khám qua trên lâm sàng.
- Phải tiến hành điều trị mụn dù nhẹ hay nặng.
- Để điều trị thành công, cần phải cân nhắc đến nguyện vọng của bệnh nhân để đưa ra quyết định điều trị cuối cùng tốt nhất cho từng bệnh nhân.
- Luôn nói sự thật
- Cần phải đưa ra kì vọng điều trị đúng thực tế ngay từ đầu.
- Không được phóng đại những kết quả không thể đạt được.
- Những kết quả điều trị có thể đạt được phải giải thích cho bệnh nhân và lên kế hoạch thời gian điều trị để đạt được kết quả mong đợi.
- Không được bao giờ quên đi những tác dụng phụ có thể xuất hiện.
- Cần phải đảm bệnh nhân tuân thủ điều trị.
- Điều trị dựa trên khoa học
- Luôn có những kiến thức mới mẻ cần phải cập nhật.
- Áp dụng những điều mà bạn nghĩ là tốt nhất cho bệnh nhân dựa trên kinh nghiệm cá nhân và các bằng chứng y khoa.
Tài liệu tham khảo:
1. Handog EB, Macarayo MJE, Gabriel MTG. Acne scars in Asian patients. In: Acne Scars Classification
and Treatment. Tosti A, De Padova MP, Beer KR, eds. London: Informa UK Ltd, 2010, 90–7.
2. Taylor SC, Kyel A. Dening skin of color. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color 2E.
Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016, 9–14.
3. Enriquez-Macarayo MJ, Handog EB. The concept of brown skin. In: Melasma and Vitiligo in Brown
Skin. Handog EB, Enriquez-Macarayo MJ, eds. India: Springer, 2017, 4.
4. Handog EB, Macarayo, MJE, Datuin MSL. Maritime Southeast Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology
for Skin of Color 2E. Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill
Education, 2016, 650–1.
5. Lim JTE, Choon SE. Mainland Southeast Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color
2E. Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016,
642–3.
6. Su P, Chen Wee Aw D, Lee SH, Han Sim Toh MP. Beliefs, perceptions and psychosocial impact of acne amongst Singaporean students in tertiary institutions. J Dtsch Dermatol Ges. 2015; 13(3):227–33.
7. Philippine Dermatological Society Health Information System Registry. Accessed June 2017.
8. Yeung CK, Teo LHY, Xiang LH, Chan HHL. A community-based epidemiological study of acne vulgaris
in Hong Kong adolescents. Acta Derm Venereol (Stockh). 2002;82:104–7.
9. Chau-Ty G, Goh CL, Koh SL. Pattern of skin diseases at the National Skin Centre (Singapore) from
1989–1990. Int J Dermatol. 1992;31:555–9.
10. Goh CL, Akarapanth R. Epidemiology of skin disease among children in a referral skin clinic in
Singapore. Pediatr Dermatol. 1994;11:125–8.
11. Han XD, Oon HH, Goh CL. Epidemiology of post-adolescence acne and adolescence acne in Singapore:
A 10-year retrospective and comparative study. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2016;30(10):1790–3.
12. Jha BN. To study the prole of acne vulgaris, its seasonal variation, relationship with smoking and
possible correlation between acne vulgaris and markers of androgenecity in females. Adv Res J Life Sci.2016;2(3):1–6.
13. Suh DH, Kim BY, Min SK et al. A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea. Int J
Dermatol. 2011;50:673–81.
14. Park MY, Kim KH, Kang H et al. Analysis of Korean acne patients according to age groups based on two multicenter studies. J Dermatol. 2017;44(2):186–8.
15. Zari S, Turkistani A. Acne Vulgaris in Jeddah Medical students: Prevalence, severity, self-report, and treatment practices. J Cosm Dermatol Sci Applic. 2017;7:67–76.
16. Abad-Casintahan F, Chow SKW, Goh CL et al. Frequency and characteristics of acne-related post-
inammatory hyperpigmentation. J Dermatol. 2016;43:826–8.
17. Tan HH, Tan AWH, Barkham T et al. Community-based study of acne vulgaris in adolescents in
Singapore. Br J Dermatol. 2007;157:547–51.
18. Tan JKL. Psychosocial impact of acne vulgaris: Evaluating the evidence. Skin Therapy Lett. 2004;9(7):1–3.
19. Suh DH, Kim BY, Min SK et al. A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea. Int J
Dermatol. 2011;50:673–81.
20. Yeung CK, Teo LHY, Xiang LH, Chan HHL. A community-based epidemiological study of acne vulgaris
in Hong Kong adolescents. Acta Derm Venereol (Stockh). 2002;82:104–7.
21. Kim IH. Salicyclic acid peel (acne peel). Hong Kong J Dermatol Venereol. 2005;13:83–5.
22. Dainichi T, Ueda S, Imayama S et al. Excellent clinical results with a new preparation for chemical
peeling in acne: 20% salicylic acid in polyethylene glycol vehicle. Dermatol Surg. 2008;34:891–9.
23. Sarkar R, Gokhale N, Sharma S. South Asia. In: Taylor and Kelly’s Dermatology for Skin of Color 2E.
Taylor SC, Paul Kelly A, Lim HW, Serrano AMA, eds. New York: McGraw Hill Education, 2016, 664–5.
24. Tan J, Kang S, Leyden J. Prevalence and risk factors of acne scarring among patients consulting
dermatologists in the United States. J Drugs Dermatol. 2017;16(2):97–102.
25. Layton A, Dreno B, Finlay AY et al. New patient-oriented tools for assessing atrophic acne scarring.
Dermatol Ther (Heidelb). 2016;6(2):219–33.
26. Perkins AC, Cheng CE, Hillebrand GG et al. Comparison of the epidemiology of acne vulgaris among Caucasian, Asian, Continental Indian and African American women. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2011;25:1054–60.136 Acne Scars
27. Tan JK, Tang J, Fung K et al. Development and validation of a Scale for Acne Scar Severity (SCAR-S)
of the face and trunk. J Cutan Med Surg. 2010;14:156–60.
28. Micali G, Francesconi L, Nardone B, Lacarrubba F. Classication of acne scars: a review with clinical
and ultrasound correlation. In: Acne Scars Classification and Treatment. Tosti A, De Padova MP, Beer
KR, eds. London: Informa UK Ltd 2010, 1–7.
29. Rivera A. Acne scarring: A review and current treatment modalities. J Am Acad Dermatol.
2008;59:659–76.
30. Hazarika N, Rajaprabha RK. Assessment of Life Quality Index among patients with acne vulgaris in a suburban population. Indian J Dermatol. 2016;61:163–8.
31. Ali FR, Kirk M, Madan V. Papular acne scars of the nose and chin: An under- recognised variant of acne scarring. J Cutan Aesthet Surg. 2016;9:241–3.
32. Gan SD, Graber EM. Papular scars: An addition to the acne scar classication scheme. J Clin Aesthet
Dermatol. 2015;8:19–20.
33. Lee SJ, Kim JM, Kim YK, Seo SJ, Park KY. The pinhole method using an erbium: YAG laser for the
treatment of papular acne scars. Dermatologic Therapy. 2017;e12512. https://doi.org/10.1111/dth.12512
34. Chaudhary RG, Pitroda HS, Modi KR, Chauhan AP. Comparative outcome study of various chemical peels and surgical procedures in the management of acne scarring. Int J Med Sci Pub Health.
2016;5:1128–33.
35. Kravvas G, Al-Niaimi F. A systematic review of treatments for acne scarring. Part 1: Non-energy-based techniques. Scars, Burns & Healing. 2017;3:1–17.
36. Zaleski-Larsen LA, Fabi SG, McGraw T, Taylor M. Acne scar treatment: A multimodality approach
tailored to scar type. Dermatol Surg. 2016;42(S2):S139–49.
37. Wat H, Wu DC, Chan HH. Fractional resurfacing in the Asian patient: Current state of the art. Lasers Surg Med. 2017;49(1):45–59.
38. Dai R, Xie H, Hua W et al. The efcacy and safety of the fractional radiofrequency technique for the
treatment of atrophic acne scar in Asians: A meta-analysis. J Cosmet Laser Ther. 2017;7:1–8.
39. Duke D, Grevelink JM. Care before and after laser skin resurfacing. A survey and review of literature.Dermatol Surg. 1998;24(2):201–6.
40. Wanitphakdeedecha R, Phuardchantuk R, Manuskiatti W. The use of sunscreen starting on the rst day after ablative fractional skin resurfacing. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2014;28(11):1522–8.
41. Philip Werschler W, Herdener RS, Victor Ross E, Zimmerman E. Treating acne scars: What’s new?
J Clin Aesthet Dermatol. 2015;8(S8):S2–8.
42. Wollina U, Goldman A. Fillers for the improvement in acne scars. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2015
8:493–9.
43. Goldman MP. The use of hydroquinone with facial laser resurfacing. J Cutan Laser Ther. 2000;2(20):73–7.
44. West TB, Alster TS. Effect of pretreatment on the incidence of hyperpigmentation following cutaneous
CO2 laser resurfacing. Dermatol Surg. 1999;25(1):15–17.
45. Goh CL, Khoo L. Laser skin resurfacing treatment outcome of facial scars and wrinkles in Asians with
skin type III/IV with the Unipulse CO2 laser system. Sing Med J. 2002;43(1):28–32.
46. Kim YJ, Lee HS, Son SW et al. Analysis of hyperpigmentation and hypopigmentation after Er:YAG laser
skin resurfacing. Lasers Surg Med. 2005;36(1):47–51.
47. Chua SH, Ang P, Khoo LS, Goh CL. Nonablative 1450-nm diode laser in the treatment of facial atrophic
acne scars in type IV to V Asian skin: A prospective clinical study. Dermatol Surg. 2004;30(10):1287–91.
48. Alexis AF, Coley MK, Nijhawan RI et al. Nonablative Fractional Laser Resurfacing for acne scarring in
patients with Fitzpatrick skin phototypes IV-VI. Dermatolo Surg. 2016;42(3):392–402.
49. Abdel Hay R, Shalaby K, Zaher H et al. Interventions for acne scars. Cochrane Database Syst Rev.
2016;4:CD011946.
50. Qin X, Li H, Jian X, Yu B. Evaluation of the efcacy and safety of fractional bipolar radiofrequency with high-energy strategy for treatment of acne scars in Chinese. J Cosmet Laser Ther. 2015;17(5):237–45.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét