LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

KÍCH THÍCH TĂNG SINH COLLAGEN BẰNG LĂN KIM VI ĐIỂM (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Thủ thuật: quy trình thực hiện và xử lí

PCIM là một thủ thuật phụ thuộc vào kĩ thuật thực hiện. Quen sử dụng dụng cụ lăn kim và thành thục kĩ thuật lăn là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả của PCIM.

Dụng cụ để tiến hành PCIM gồm một cây lăn kim polyethylene, có gắn nhiều vi kim làm bằng thép không rỉ xếp thành hàng với tổng số lượng khoảng 192 chiếc có độ dài 2.5 mm.
Chúng tôi đề xuất quy trình điều trị như sau: tẩy nhờn bằng xà phòng lỏng và sát khuẩn với chlorhexidine sau đó gây tê thần kinh dưới ổ mắt và thần kinh cằm. Bước tiếp theo là tiêm tê bằng lidocaine 2% pha loãng với saline (1:3) vào vùng má, điều chỉnh lượng thuốc tê tối đa theo cân nặng của bệnh nhân.

Kim lăn nên được di chuyển theo chuyển động lui tới cho đến khi thấy những giọt máu xuất hiện đồng nhất. Khi kết thúc thủ thuật, đắp gạc vô trùng trong 24h, bệnh nhân sau đó có thể lột gạc trong khi tắm ở nhà. Bệnh nhân được kê chất tái tạo hàng rào da sử dụng 3 lần mỗi ngày cho đến khi hoàn toàn hồi phục. Sau thủ thuật, bệnh nhân nên được kiểm tra để đánh giá những tác dụng phụ có thể xảy ra như đỏ da, phù hoặc nhiễm trùng. Bệnh nhân có thể quay trở lại với công việc sau 7-10 ngày. Phù da mức độ trung bình và đỏ da sẽ kéo dài trong khoảng 25 đến 35 ngày , tuy nhiên sau 15 ngày bệnh nhân sẽ được hướng dẫn sử dụng các kem chống nám (0.05% retinoic acid+ 4% hydro- quinone+ 0.01 % fluocinolone aceton- ide), sử dụng luân phiên với chất tái
tạo da và chống nắng (SPF 50+). Sau 30 ngày, bệnh nhân có thể sử kem chống nám mỗi tối.

Số lượng pass (lượt lăn kim) trước khi xuất hiện các chấm xuất huyết rất khác nhau tùy thuộc vào độ dày của da và loại vi kim được lựa chọn. Da càng mỏng và mất collagen (như trong tổn thương da do ánh sáng) thì các chấm xuất huyết đồng nhất càng xuất hiện sớm hơn so với da dày. Da có sẹo trứng cá thường dày, do đó cần phải lăn kim nhiều pass hơn và sử dụng kim dài hơn để tạo được kiểu xuất huyết đồng nhất. Theo đó, thì những tác dụng không mong muốn như đỏ da và phù cũng sẽ nghiêm trọng hơn khi tăng số pass và độ dài kim. Ở một vài bệnh nhân có thể thấy tăng sắc tố sau viêm mức độ trung bình, nhưng nó sẽ trở lại bình thường khi sử dụng kem chống nám trong 30- 45 ngày (hình 9, 10, và 11).

Hình 9: Ảnh bệnh nhân sau 30 ngày làm PCIM với sự cải thiện tình trạng sẹo mụn.

Hình 10: Sự cải thiện nếp nhăn và sệ da sau 30 ngày tiến hành PCIM.

Hình 11: Cải thiện tình trạng sẹo mụn, sệ da, và nám má 30 ngày sau PICM.

Kết luận

PCIM là một phương pháp điều trị sáng tạo, áp dụng cho rất nhiều chỉ định khác nhau với mục đích kích thích tái tạo collagen, và là một vũ khí truyền thống được trang bị cho các bác sĩ da liễu. Mục đích của những nghiên cứu hiện tại là thiết lập được mối liên quan giữa độ dài vi kim được sử dụng và mức độ tổn thương da được gây ra, từ đó hỗ trợ cho việc đưa ra lựa chọn dụng cụ lăn kim cho các chỉ định khác nhau. Nó tùy thuộc vào mỗi cá nhân bác sĩ da liễu để đánh giá chính xác tổn thương cần được điều trị và tiến hành thủ thuật theo những kĩ thuật đã được khuyến cáo.

GHI NHỚ

  • Đây là thủ thuật cho phép kích thích tái tạo collagen mà không loại bỏ toàn bộ lớp thượng bì.
  • Thời gian lành vết thương ngắn hơn và nguy cơ tác dụng phụ ít hơn so với những kĩ thuật xâm lấn khác.
  • Da sẽ trở nên dày và đề kháng tốt hơn, khác với các kĩ thuật xâm lấn thì mo sẹo thường nhạy cảm với tổn thương ánh sáng.
  • Thủ thuật này có thể được chỉ định cho mọi phân loại và màu sắc da, ngoài ra nó còn có thể được sử dụng ở những vùng có mật độ tuyến bã thấp.
  • Giá thành thấp hơn so với những thủ thuật đòi hỏi công nghệ cao, cần sự đầu tư lớn.
  • Thủ thuật này phụ thuộc vào kĩ thuật thực hiện do đó cần phải được đào tạo.
  • Nếu gây tổn thương trung bình và sâu thì cần thời gian phục hồi lâu hơn.
  • Đánh giá cẩn thận nhu cầu của bệnh nhân và kết quả có thể đạt được tương ứng của thủ thuật, để bệnh nhân tránh có những kì vọng không thực tế về kết quả có thể đạt được.
THAM KHẢO
Aust MC. Percutaneuos Colla- gen Induction therapy (PCI)- an al- ternative treatment for scars. Wrin- kles Skin Laxity. Plast Reconstr Surg. 2008a;121(4):1421–9.
Aust MC. Percutaneuos Collagen Induction therapy (PCI)- minimally in- vasive skin rejuvation with risk of hy- per- pigmatation- fact or fiction? Plast Reconstr Surg. 2008b;122(5):1553–63. Bal SM, Caussian J, Pavel S, Bou-
wstra JA. In vivo assess- ment of safety of microneedle arrays in human skin. Eur J Pharm Sci. 2008;35(3):193–202.
Brody HJ. Trichloracetic acid applica- tion in chemical peel- ing, operative techniques. Plast Reconstr Surg. 1995; 2(2):127–8.
Camirand A, Doucet J. Needle dermabrasion. Aesthet Plast Surg. 1997;21(1):48–51.
Cohen KI, Diegelmann RF, Lind- bland WJ. Wound healing: biochemical and clinical aspects. Philadelphia:
W.B. Saunders Co; 1992.
Fabroccini G, Fardella N. Acne scar treatment using skin needling. Clin Exp Dermatol. 2009;34(8):874–9.
Fernandes D. Minimally inva- sive percutaneous collagen induction. Oral Maxillofac Surg Clin North Am. 2006;17(1):51–63.
Fernandes D, Massimo S. Com- bating photoaging with percutaneu- os collagen induction. Clin Dermatol 2008;26(2):192–9.
Lima E, Lima M, Takano D. Mi- croagulhamento: estudo experimental e classificação da injúria provocada. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(2):110– 4.
Lv YG, Liu J, Gao YH, Xu B. Model- ing of transdermal drug delivery with a microneedle array. J Micromech Micro- engim. 2006;16(11):151–4.
Orentreich DS, Orentreich N. Subcutaneous incisionless (subcision) surgery for the correction of depressed scars and wrinkles. Dermatol Surg. 1995;21(6):6543–9.
Vandervoort L, Ludwig A. Mi- croneedles for transdermal drug de- livery;- minireview. Front Biosci. 2008; 13(5):1711–5.
Vasconcelos NB, Figueira GM, Fonseca JCM. Estudo comparativo de hemifaces entre peelings de fenol (fór- mulas de BakerGordon e de Hetter) para a correção de rítides faciais. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(1):40

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét