LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

PEEL BẰNG PYRUVIC ACID (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Tóm tắt

Peel pyruvic acid có thể được phân loại như là một loại peel bán trung bình, giữa peel nông và peel trung bình. Độ xâm nhập vào da phụ thuộc vào nồng độ của pyruvic acid, sự chà sát, dung môi, số lớp bôi, và thời gian tiếp xúc. Pyruvic acid có thể được cho thêm dầu cây ba đậu để đạt được peel sâu; tuy nhiên, phương thức này cần phải được ng- hiên cứu thêm để có thể được áp dụng trên lâm sàng. Chương này sẽ mô tả cách để đưa ra chỉ định cho các loại peel da bằng pyruvic acid khác nhau. Những hạn chế đặc biệt, chống chỉ định, chuẩn bị trước peel và hoạt chất sử dụng sau peel cũng được mô tả.

Nội dung

- Giới thiệu
- Chỉ định và hạn chế
- Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da
- Phương pháp bôi
- Lựa chọn độ mạnh dung dịch pyru- vic acid
- Điều trị phối hợp
- Quá trình lành và chăm sóc sau peel
- Ghi nhớ
- Tham khảo

Giới thiệu

Với rất nhiều phương pháp điều trị tái tạo bề mặt da (resurfac- ing) như LASER, sóng cao tầng, micro- dermabrasion, và các loại peel hóa học cổ điển như trichloracetic acid (TCA), salicylic acid, retinoic acid, lactic acid, glycolic acid, carbolic acid, và những công thức phối hợp của những loại acid này thì cho dù với một bác sĩ kinh nghiệm họ cũng sẽ rất do dự khi thử một phương pháp khác, với một loại hóa chất ít phổ biến hơn, trừ khi loại hóa chất đó có một vài những ưu điểm mà tất cả những loại hóa chất peel kể trên không có được.

Mặc dù peel da bằng pyruvic acid có được nhiều sự quan tâm trong thập kỉ vừa qua, thì phương pháp này vẫn là một trường hợp “peel ngoại lệ”. Loại alpha-keto-acid kích thước nhỏ này có pKa thấp và xâm nhập nhanh và sâu qua da, do đó có thể được xem như là một chất peel tiềm năng. Mặc dù, pyruvic acid được xem như là chất peel nông hoặc trung bình, tôi vẫn thích thuật ngữ “peel bán trung bình”, bởi vì nó có thể đạt được kết quả tốt hơn so với peel nông thông thường nhưng lại nhẹ hơn so với peel ở độ sâu trung bình. Tuy nhiên, ở nồng
độ cao và trong dung dịch cồn nó có thể đạt được hiệu quả peel sâu (Coleman và Brody 1997). Vảy da có thể thấy rõ vì phương pháp peel này gây phù lớp bì, giữ nước cùng với tiêu sừng nhẹ, kháng khuẩn, kháng viêm và ổn định tuyến bã, thêm vào đó chất này còn có khả năng kích thích sản xất mới col- lagen và elas- tin. Nhờ sở hữu đặc tính sinh hóa có thể tác động lên quá trình chuyển hóa năng lượng trong ty thể ở tất cả sinh vật hiếu khí, pyruvate được chuyển hóa thành acetyl coenzyme A trước khi bị oxi hóa hoàn toàn bởi CO2. Khi nồng độ O2 không đủ, pyru- vate được chuyển hóa thành lactate. Do đó, khả năng chuyển hóa năng lượng sinh hóa cơ bản của nó có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa bên trong tế bào, và tác dụng của nó có thể không chỉ phụ thuộc tổn thương được gây ra bởi hóa chất.

Pyruvic acid rất là không ổn định, do đó sản phẩm cần được giữ kín khí trong tủ lạnh (2-80C). Loại acid này rất dễ bay hơi, có mùi rượu khét mạnh. Hơi acid có thể gây khó chịu đường thở và mắt, do đó bắt buộc phải đặt quạt khi tiến hành thủ thuật peel và bệnh nhân nên tránh mở mắt trong quá trình làm thủ thuật. Nếu không có sẵn tủ lạnh trong phòng khám, thì rất khó có thể giữ ổn định chất nầy.

Chỉ định và hạn chế

Chỉ định chính đối với peel bằng acid pyruvic là: mụn (độ I-IV) (Cotel- lessa 2004; Marczyk 2014), da dầu (Marczyk 2014), viêm nang lông, tổn thương da ánh sáng nhẹ và nếp nhăn nông (Glogau I-II) sẹo nông bề mặt và đốm nâu (Be- rardesca 2006). Acid này còn có thể mang lại lợi ích cho các bệnh nám má ở bệnh nhân có phân loại da I-III, đặc biệt là ở những người có kèm theo sẹo mụn hay thay đổi sắt tố da gây ra bởi hy- droquinone như đốm trắng da, hoặc tăng sắc tố nhẹ sau viêm.

Hạn chế của chất này là xâm nhập lớp nông bề mặt da, nên không có tác dụng đối với những vấn đề sâu hơn của da như nếp nhăn sâu, sẹo mụn sâu, và tăng sắc tố lớp bì. Việc cho thêm dầu cây ba đậu (croton) để làm tăng tác dụng kích thích collagen chỉ đang được là thí nghiệm, cần có công thức và protocol điều trị tốt hơn. Đối với những trường hợp thượng bì dày hơn, nó thường không có hiệu quả. Do đó, nếu phối hợp điều trị với TCA sẽ cho kết quả tốt hơn trong điều trị dày sừng ánh sáng.


Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da

Sàng lọc bệnh nhân là điều bắt buộc khi peel da bằng pyruvic acid. Cảnh báo: acid pyruvic xâm nhập rất nhanh và nguy hiểm trên da vốn bị tổn thương hàng rào da như trong viêm da mạn tính, kích ứng với ret- inoid, viêm da dầu, viêm da cơ địa, và viêm da quanh miệng. Nếu frost (lớp da bị nổi tuyết do protein bị đông vón bởi acid) xảy ra trong quá trình peel da bằng pyruvic acid thì vùng bị tổn thương chắc chắn sẽ bị tăng sắc tố sau viêm nặng.

Bệnh nhân có phân loại da I-III khỏe mạnh là lựa chọn lý tưởng cho thủ thuật này. Khả năng thấm thường đồng đều thậm chí đối
với da không được chuẩn bị trước. Trong một vài trường hợp da quá dầu và nhiều nhân mụn, bệnh nhân nên sử dụng các chất có khả năng tiêu sừng nhẹ như gly- colic acid 10%, pyru- vic acid 8%, aze- laic acid 15%, hay adapalene 0.1% ít nhất một tháng trước khi peel lần thứ nhất, sau đó có thể duy trì sau các lần peel. Vì những chất này thường gây kích ứng da trong tuần đầu sử dụng, do đó bệnh nhân nên sử dụng trước một tháng để da có thời gian thích nghi với chúng. Nên ngưng những sản phẩm bôi trên từ 48-72h trước khi peel để tránh kích ứng quá mức vùng dễ bị tổn thương như vùng quanh miệng hay quanh ổ mắt vì có thể gây ra tăng sắc tố sau viêm. Bệnh nhân cần phải lưu ý nguy cơ tăng sắc tố sau viêm này và biến chứng này có thể tồn tại tạm thời trong vòng 6 tháng.

Phương pháp bôi

Cần phải tẩy nhờn để hạn chế khả năng xâm nhập của acid vì pyruvic acid thấm tốt đối với da dầu. Tẩy nhờn có thể được tiến hành nhẹ nhàng bằng miếng cotton mềm tẩm ethanol 70% (hình 1).

Nếu bất kì vùng da nào bị đỏ và đau khi tẩy nhờn bằng alcohol thì nên hoãn thủ thuật lại hoặc nếu vùng da chính cần điều trị vẫn ổn và an toàn để peel thì có thể tiến hành peel ở tại vùng đó và tránh những vùng da bị kích ứng để không gây tăng sắc tố sau viêm.

Cần dùng miếng cotton mềm (hình 2), bàn chải mềm, hoặc miếng gạc xốp được gấp 4x4 để bôi acid. Dùng miếng cotton mên bôi sẽ tạo ra
một lớp dung dịch mỏng và không làm tăng sự xâm nhập của acid do không chà xát vào da. Bàn chải mềm như bàn chải lông chồn hoặc bàn chải lông cừu thì rất mềm mại nhưng khi bôi lên da lại tạo ra một lớp dung dịch dày hơn. Có sự khác nhau này vì lông ít thấm dung dịch, trong khi miếng cotton giống như miếng xốp, nó thấm tốt hơn.

Hình 1: tẩy nhờn nhẹ bằng miếng cotton tẩm ethanol 70%
Hình 1: tẩy nhờn nhẹ bằng miếng cotton tẩm ethanol 70%

Hình 2: Tiến hành peel với pyruvic acid 40% trong dung dịch cân bằng nước-eth- anol.
Hình 2: Tiến hành peel với pyruvic acid 40% trong dung dịch cân bằng nước-eth- anol.

Hình 2: Tiến hành peel với pyruvic acid 40% trong dung dịch cân bằng nước-eth- anol. Peel lần đầu với thỏi cotton để tạo một lớp mỏng trên da, không chà xát. Đăt quạt cạnh bệnh nhân để tránh gây kích ứng đường thở do acid bay hơi. Mắt bệnh nhân nhắm trong suốt quá trình làm thủ thuật để hạn chế kích ứng vùng mắt do acid bay hơi.

Khi dùng miếng gạc xốp có thể làm tăng độ xâm nhập bằng cách chà từ nhẹ đến mạnh vào da. Thay vì chà mạnh để tạo peel sâu thì nên cân nhắc chuyển qua dùng một loại chất peel sâu khác như phenol 30-35% với dầu croton 0.4%, chất này sẽ xâm nhập tốt hơn vào lớp bì.

Pyruvic acid cần phải được trung hòa hoặc rửa sạch khi da bắt đầu đỏ, thường da sẽ đỏ sau 3-5 phút. Do đó, dung dịch cần phải được bôi nhanh, toàn bộ mặt hoặc được bôi theo mỗi đơn vị thẩm mỹ và trung hòa từng đơn vị một, cách này có thể giúp kiểm soát sự xâm nhập đồng nhất vì ở vùng quanh miệng, quanh ổ mắt, và vùng cằm acid xâm nhập nhanh hơn so với vùng trán. Do đó nếu áp dụng kĩ thuật bôi toàn bộ mặt thì tôi thường bắt đầu bôi vùng trán và vùng mũi trước. Sau đó, dung dịch peel sẽ được bôi tiếp ở vùng má 2 bên, vùng má giữa, vùng quanh mũi, vùng quanh miệng, và sau đó là vùng quanh mắt/cổ.

Để đảm bảo an toàn, peel này cần phải được trung hòa đặc hiệu bằng dung dịch sodium bicarbonate 10% hoặc rửa mặt trong chậu đầy nước. Trung hòa acid sẽ giúp hạn chế tổn thương bề mặt da. Bắt đầu trung hòa ở vùng da đỏ nhất, thường là vùng quanh ổ mắt và quanh miệng. Tuy nhiên đối với những bệnh nhân có sự chuẩn bị trước peel tốt, vùng trán có thể đỏ khi vừa bôi xong và phải tiến hành trung hòa đầu tiên (do vùng trán thường phải được bôi đầu tiên). Trong một vài trường hợp, để có hiệu quả tốt hơn có thể không cần trung hòa.

Nên trung hòa toàn bộ da mặt, do đó dung dịch bicarbonate 10%
nên được chuẩn bị sẵn trong một cốc nước bằng nhựa (loại dùng một lần), sau đó ngâm khăn cotton vào cốc này trước khi bôi lên từng vùng để trung hòa acid (hình 3). Có thể dùng bicar- bonate dạng phung sương hoặc dùng với miếng bông hoặc khăn cotton. Nếu dùng khăn thấm nước để trung hòa dung dịch thì nên dùng nhiều khăn thấm nước hơn để trung hòa nhiều lần. Sau khi đã hoàn toàn loại bỏ dung dịch acid trên mặt, nên khuyên bệnh nhân rửa mặt trong chậu nước để đảm bảo loại bỏ tối đa acid trên da mặt (hình 4).

Hình 3: Trung hòa bằng sodium bicabon- ate 10% với khăn cotton lớn và mềm.
Hình 3: Trung hòa bằng sodium bicabon- ate 10% với khăn cotton lớn và mềm.

Hình 4: rửa mặt với chậu nước đẻ loại bỏ pyruvic acid. Lưu ý rằng phương pháp này không trung hòa mà làm loãng dung dịch acid.

Tài liệu tham khảo
Berardesca E, Cameli N, Pri- mavera G, Carrera M. Clinical and in- strumental evaluation of skin improve
ment after treatment with a new 50% pyruvic acid peel. Dermatol Surg. 2006;32(4):526–31.
Coleman WP, Brody HJ. Ad- vances in chemical peeling. Dermatol Clin. 1997;15(1):19–26.
Cotellessa C, Manunta T, Gh- ersetich I, Brazzini B, Peris K. The use of pyruvic acid in the treatment of acne. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2004;18(3):275–8.
Ghersetich I, Brazzini B, Peris K, Cotellessa C, Manunta T, Lotti T. Py- ruvic acid peels for the treat- ment of photoaging. Dermatol Surg. 2004; 30(1):32–6. discussion 36

Kadunc BV. Pyruvic acid: stan- dardization technique for the use in chemical peelings by means of experi- mental study. University of Sao Paulo; 1998.
Marczyk B, Mucha P, Budzisz E, Rotsztejn H. Comparative study of the effect of 50% pyruvic and 30% salicylic peels on the skin lipid film in patients with acne vulgaris. J Cos- met Dermatol. 2014;13(1):15–21.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét