LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

 PEEL DA BẰNG SALICYLIC ACID (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Công thức peel SA

Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi sử dụng dung dịch alcohol của salicylic acid được mô tả trong một bài báo của Yokomizo (2013). Chúng tôi sử dụng SA ở nồng độ 20% hoặc 30% với ethanol. Acrylate co- polymer hoạt động bằng cách hình thành một màng film trên da, cho phép SA lưu lại trên da và còn ethanol sẽ bị bay hơi. SA cũng được sản xuất ở dạng kem (Kede 2015): SA (dạng bột) USP (United States Pharmacopeia) 40 hoặc 50%, sodium methyl salicylate 16 drops, và solid petrolatum 112g.


Gần đây, một loại công thức mới được tạo ra từ SA bằng cách thêm vào một chuỗi lipid có tên là lipo HA đã được sử dụng. Sản phẩm này ưu dầu hơn so với SA, do đó làm cho cơ chế của nó đặc hiệu hơn, và hiệu quả tiêu sừng cao hơn.


Một dung môi mới là polyeth- ylene glycol cũng đã được đánh giá. Chất này làm dịu các triệu chứng như nóng, châm chích, và đỏ da gây ra bởi SA. Dung môi mới này có ái lực cao với acid, khi bôi nó tiếp tục gắn với acid và từ từ nhả ra lượng acid nhỏ hơn trên bề mặt thượng bì. Đều này giúp giải thích nguyên nhân làm dịu cảm giác bỏng rát của chất này.


Trước thủ thuật

Nên chuẩn bị da 1 tháng trước khi peel bằng SA. khi peel bằng SA. Chuẩn bị da trước với retinoids hoặc HA là rất quan trọng vì quá trình chuẩn bị này sẽ giúp làm tăng khả năng thấm khi peel, và thúc đẩy sự phân tán của các hạt mela- nin. Ngoài ra, sử dụng chống nắng phổ rộng với cả UVA và UVB, và ferric oxit (oxit sắt) một cách thường xuyên luôn được khuyến cáo.

Dự phòng nhiễm herpes được chỉ định nếu bệnh nhân có tiền sử nhiễm HSV.

Tiến hành thủ thuật

Tẩy trang với miếng cotton và lotion tẩy trang không chứa xà phòng.
Rửa sạch mặt với gạc và cồn để loại bỏ lớp dầu trên mặt và làm tăng thấm.
Bôi một đến hai lớp SA bằng cách dùng gạc (hình 1). Một miếng gạc cotton được sử dụng để bôi SA chỉ trên một vùng tổn thương duy nhất (như tổn thương mụn viêm).

Sau một vài giây, bệnh nhân sẽ cảm thấy nóng rát nhẹ, cảm giác này sẽ kéo dài 3-4 phút. Trong thời gian này, đỏ da nhẹ và đồng nhất có thể xuất hiện ở những bệnh nhân người da trắng.

Khi SA khô đi sẽ tạo một lớp màu trắng, đây không phải là lớp frost (lớp da nổi trắng do protein bị đông bởi acid) thực sự mà là sự lắng đọng của các tinh thể SA. Lớp trắng này thấy nhiều hơn trên bề mặt các tổn thương viêm (hình 2a, b).

SA sau đó được trung hòa giống như khi peel bằng α-HA. Mặc dù đã được trung hòa, sau 5 phút, cần dùng một tấm gạc thấm nước để lau sạch vùng da được peel. Có thể dùng nước


Thủ thuật này có thể được lặp lại mỗi 2-4 tuần. Để đạt được kết quả lâm sàng tốt cần thực hiện 3-6 lần.

Hình 1: Dùng gạc để bôi salicylic acid
Hình 1: Dùng gạc để bôi salicylic acid
Hình 2. Lớp trắng ở trên da do lắng đọng tinh thể salicylic acid xuất hiện vài phút sau khi bôi: (a) sau khi bôi một lớp SA; (b) sau khi bôi 3 lớp SA.
Hình 2. Lớp trắng ở trên da do lắng đọng tinh thể salicylic acid xuất hiện vài phút sau khi bôi: (a) sau khi bôi một lớp SA; (b) sau khi bôi 3 lớp SA.

Sau thủ thuật

Sau thủ thuật, bong da nhẹ xảy ra sau 3-5 ngày và kéo dày 7-10 ngày (hình 3).
Trong giai đoạn này, cần bôi chất dưỡng ẩm cho da khô, phải sử dụng kem chống nắng và không được bôi bất kì một loại thuốc điều trị nào khác như retinoic acid hay glycol- ic acid cho đến khi da hoàn toàn hồi phục. Cần phải lưu ý rằng việc kê đúng loại hoạt chất hỗ trợ làm lành là rất quan trọng, chẳng hạn như không nên kê thuốc bôi dầu cho bệnh nhân peel SA để điều trị da mụn. Trong trường hợp mụn trứng cá, chúng tôi khuyến cáo chỉ bôi chống nắng không chứa dầu (oil-free). Các thuốc điều trị mụn nên bắt đầu sử dụng lại sớm ngay khi da hồi phục.


Hình 3. Bong da nhẹ sau 4 ngày
Hình 3. Bong da nhẹ sau 4 ngày

Biến chứng và cách xử lí

SA thường xâm nhập nông trên bề mặt và an toàn cho hầu hết các loại da. Tuy nhiên, cần phải chăm sóc đối với những loại da có phân loại cao (III, IV, V) hoặc da không được chuẩn bị trước peel do có nguy cơ tăng sắc tố sau viêm. Do đó, chúng tôi luôn khu- yên bệnh nhân tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời ít nhất 1 tháng trước khi peel và 1 tháng sau khi peel.

Có thể bôi steroids trong thời gian ngắn (3-5 ngày) nếu xảy ra phản ứng viêm nặng ngay sau khi làm thủ thuật do phản ứng kích ứng và dị ứng với SA.
Nếu bị tăng sắc tố có thể kê chất làm trắng và chống nắng phù hợp với loại da của bệnh nhân.

Mặc dù cũng có nguy cơ ngộ độc salicylic acid, tuy nhiên nó rất hiếm khi xảy ra khi dùng ở dạng dung dịch. Ngộ độc xảy ra khi nồng dộ salicylic acid trong máy tăng từ 200 đến 400μg/ml (Guedes 2012). Triệu chứng ngộ độc salicylic acid như sau:
Ngộ độc nhẹ: khó thở, ù tai, kém nghe, chóng mặt, buồn nôn, nôn và đau bụng.
Ngộ độc nặng: rối loạn hệ thống thần kinh trung ương, rối loạn tâm thần (giả ngộ độc rượu)

Kết luận

Peel bằng SA an toàn và hữu ích trong điều trị mụn, nám má, và da bị lão hóa ánh sáng. SA có thể dược dùng để điều trị vùng mặt và những vùng ngoài mặt.
Peel SA tương đối dễ chịu với chỉ bong da mỏng. Có thể thực hiện 3-6 lần cách nhau mỗi 2-4 tuần một lần. SA cũng có thể được dùng phối hợp với các chất peel nông khác trong cùng một thủ thuật để làm tăng khả năng xâm nhập của chất peel thứ hai đó, từ đó giúp làm tăng hiệu quả lâm sàng.

Trong điều trị mụn, peel SA giúp làm giảm tổn thương viêm (hình 4, 5) cũng như cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau viêm và cấu trúc da.
Hình 4. Trước và sau một lần peel. Cải thiện lâm sàng sau 10 ngày.


Hình 5. Hình ảnh cận cảnh của cùng bệnh nhân trước và sau một lần peel. Lâm sàng cải thiện sau 10 ngày.

Ghi nhớ

  • Peel da hóa chất dễ thực hiện và rất hữu ích trong điều trị các vấn đề da khác nhau.
  • Peel da SA an toàn và tác dụng tốt đối với các trường hợp mụn, nám má, và lão hóa da do ánh sáng.
  • Khi điều trị mụn, SA giúp làm giảm tổn thương viêm cũng như giúp cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau viêm và cấu trúc da.
  • SA có thể được sử dụng để điều trị ở cả vùng mặt và vùng ngoài mặt.
  • SA có thể được dùng phối hợp với các chất peel nông khác để làm tăng khả năng xâm nhập của chất peel thứ 2 và làm tăng hiệu quả lâm sàng.
  • Peel SA tương đối dễ chịu với bong lớp da mỏng.
  • Bệnh nhân cần phải nắm được những hạn chế của phương pháp này và có kỳ vọng đúng với thực tế.

Tài liệu tham khảo

  • Ayres S. Dermal changes fol- lowing application of chemical cau- terants to aging skin. Arch Dematol. 1960;82:578.

  • Baker TJ, Gordon HL. The ab- lation of rhytides by chem- ical means: a preliminary report. J Fla Med Assoc. 1961;48:541

  • Brody HJ. Peeling químico e resurfacing. 2a ed. Rio de Janeiro: Re- ichmann & ffonso; 2000.

  • Brody HJ, Hailey CW. Medi- um depth chemical peeling of the skin: a variation of superficial che- mosurgery. J Dematol Surg Oncol. 1986;12:1268.

  • Butler PE, Gonzalez S, Ran- dolph MA, Kim J, Kollias N, Yaremchuk MJ. Quantitative and qualitative ef- fects of chemical peeling on photoag- ed skin: an experimental study. Plast Reconstr Surg. 2001;107(1):222–8.

  • Eller JJ, Wolf S. Skin peeling and scarification. JAMA. 1941;116:934–8.

  • Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera MS, Dreno B. Chem- ical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2010;24(3):281–92.

  • Guedes LS. Hidroxiácidos. In: Costa A, editor. Tratado internacion- al de cosmecêuticos. Rio de Janeiro: Guanabara Koogan; 2012. p. 365–73.

  • Kede MP. Peelings químicos superficiais e médios. In: MPV K, Sa- batovich O, editors. Dermatologia Es- tética. 3a ed. São Paulo: Ed. Atheneu; 2015. p. 601–34.

  • Monheit G. The Jessner’s þ TCA peel: a medium depth chemical peel. J Dematol Surg Oncol. 1989;15:945.

  • Tung RC, Bergfeld WF, Vidi- mos AT, Remzi BK. Alpha- hydroxy ac- id-based cosmetic procedures. Guide- lines for patient management. Am J Clin Dermatol. 2000;1 (2):81–8.

  • Van Scott EJ, Yu RJ. Hyperke- ratinization, corneocyte cohesion, and alpha hydroxy acids. J Am Acad Der- matol. 1984;11:867–79.

  • Van Scott EJ, Ditre CM, Yu RJ. Alpha-hydroxyacids in the treatment of signs of photoaging. Clin Dermatol. 1996;14(2):217–26.

  • Yokomizo VMF, Benemond TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel- ings químicos: revisão e aplicação prática. Surg Cosmet Dermatol.





Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét