LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

 PEEL DA BẰNG SALICYLIC ACID (PHẦN 1)

Translated by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Tóm tắt

Lột da hóa học là thủ thuật bôi một hoặc nhiều chất lột da, nhằm gây ra sự phá hủy một vài lớp thượng bì hoặc lớp bì, tiếp theo đó kích thích sự tái sinh của da. Mỗi một bệnh nhân nên được đánh giá cẩn thận để quyết định dùng loại hóa chất phù hợp để cho kết quả tốt nhất với ít biến chứng nhất. Lựa chọn loại hóa chất peel cho từng bệnh nhân dựa vào chỉ định của loại hóa chất lột da, lối sống của bệnh nhân, độ sâu của tổn thương cần được điều trị, và phân loại da của họ.

Salicylic acid (SA) là một loại β-hydroxy acid có tác dụng tiêu sừng ở nồng độ 3-5% và giúp các hóa chất khác thấm tốt hơn vào da. Với nồng độ dưới 3%, SA có tác dụng gây tăng sừng. SA thường được dùng với dung dịch alcohol nồng độ 20% hoặc 30% và tỉ lệ biến chứng thấp. Bong da nhẹ xuất hiện từ 3-5 ngày sau peel và kéo dài trong khoảng 10 ngày. SA sử dụng hiệu quả trong điều trị lão hóa da ánh sáng giai đoạn sớm, nám má, mụn trứng cá viêm và không viêm, sẹo mụn nông và những vấn đề ở bệnh nhân da sạm màu.

PEEL DA BẰNG SALICYLIC ACID

PEEL DA BẰNG SALICYLIC ACID

Nội dung

  • Giới thiệu
  • Peel bằng salicylic acid (SA)
  • Định nghĩa
  • Chỉ định và chống chỉ định
  • Công thức peel SA
  • Tiền thủ thuật
  • Thủ thuật
  • Sau thủ thuật
  • Biến chứng và xử lí
  • Kết luận
  • Ghi nhớ
  • Tham khảo

Giới thiệu

Lột da hóa học là thủ thuật bôi một hoặc nhiều chất lột da, gây ra sự phá hủy một vài lớp thượng bì hoặc lớp bì, tiếp theo đó kích thích sự tái sinh của da (Fischer.2010)

Nếu sử dụng đúng kĩ thuật peel da hóa chất thì có thể kiểm soát và lập trình được các tổn thương da, từ đó giúp trẻ hóa da (Butler. 2001). Peel da hóa chất lần đầu được thực hiện vào
năm 1941 khi mà Eller và Wolf sử dụng kĩ thuật này trong điều trị sẹo mụn. Sự quan tâm của người Mỹ đối với thủ thuật này đã tăng lên nhanh chóng. Aryes (1960), Baker và Gordon (1961) đã bắt đầu một thời kì mới của peel da gọi là ‘peel da hóa chất hiện đại’. Vào năm 1986, Brody và Hailey đã sử dụng phối hợp 2 loại hóa chất peel nông để thực hiện một thủ thuật peel trung bình. Monheit đã đề xuất một kĩ thuật khác về sự kết hợp giữa 2 loại peel khác nhau vào năm 1989 (Brody 2000).

Peel bằng salicylic acid (SA)

Định nghĩa

Hydroxy acid (HA) được mô tả đầu tiên bởi Van Scott và Yu khi họ phát hiện thấy HA với nhóm hydroxyl ở vị trí α hoặc β khi bôi lên da có thể giúp cải thiện tình trạng tăng sừng. Họ nhận thấy rằng quá trình keratin hóa đã bị ảnh hưởng và lớp sừng thượng bì đã bị làm mỏng (Van Scott và Yu. 1984). Việc sử dụng HA vào thẩm mỹ bắt đầu từ nhiều năm sau đó, khi người ta quan sát thấy chất này có thể giúp cải thiện những đặc điểm lâm sàng và cấu trúc của da bị tổn thương ánh sáng (Tung 2000; Van Scott 1996).

HA được phân loại như là một organic carboxylic acid vì chúng chứa các phân tử carbon và hydrogen. Trong da học, có 4 nhóm HA được phân loại theo vị trí nhóm hydroxyl của phân tử đó là: α-HA, β-HA, poly-HA, và bionic.

Salicylic acid (HA) là một loại β-HA bởi vì nó có nhóm hydroxyl gắn ở vị trí β của phân tử carboxylic. Khác biệt hóa lí chủ yếu giữa SA và α-HA là SA không tan trong nước trong khi α-HA có thể tan trong nước (Guedes 2012).

Ở nồng độ dưới 3%, SA làm tăng sừng, giúp điều hòa quá trình keratin hóa, từ đó giúp cải thiện lớp thượng bì bị tổn thương bởi ánh sáng mặt trời và tăng phân tán các hạt chứa melamin. Khi dùng ở nồng độ 3-5%, SA có tác dụng tiêu sừng và thúc đẩy khả năng thấm của các hóa chất khác. SA sử dụng để peel có nồng độ từ 10- 30%.
SA có tác dụng sát khuẩn và có khả năng thấm cao vào da dầu và tuyến bã nhờn, đều này giúp SA có tác dụng tốt trong điều trị mụn trứng cá. Ngoài ra, tỉ lệ biến chứng của loại acid này cũng rất thấp. Dung môi trong công thức này dễ bay hơi và bay hơi nhanh giúp nhăn chặn sự xâm nhập sâu hơn của acid.

Chỉ định và chống chỉ định

SA có thể được chỉ định trong điều trị lão hóa da ánh sáng giai đoạn đầu, rám má, mụn trứng cá viêm hoặc không viêm, sẹo mụn nông, và các vấn đề ở những người có kiểu da ngăm.

SA cũng được dùng phối hợp với các loại hóa chất peel khác như tri- chloroacetic acid và retinoic acid. Đều quan trọng cần phải lưu ý là khi peel phối hợp, nếu chúng ta sử dụng SA trước thì khả năng xâm nhập của chất peel thứ 2 sẽ nhanh hơn và sâu hơn vì peel SA có tác dụng làm tiêu sừng, do đó làm tăng nguy cơ biến chứng.

SA có thể được sử dụng ở bất kì vùng da nào trên cơ thể. Nhờ vậy, SA trở thành công cụ rất hữu dụng trong điều trị mụn trứng cá ở lưng và vùng chữ ‘V’ ở cổ. Tuy nhiên, nên tránh việc sử dụng SA trên vùng da quá rộng vì sẽ có nguy cơ bị ngộc độc salicylic, mặc dù biến chứng này không thường xảy ra khi dùng SA dạng dung dịch. Ngoài ra, cũng không nên sử dụng cho những bệnh nhân dị ứng với SA.

Tài liệu tham khảo

  • Ayres S. Dermal changes fol- lowing application of chemical cau- terants to aging skin. Arch Dematol. 1960;82:578.

  • Baker TJ, Gordon HL. The ab- lation of rhytides by chem- ical means: a preliminary report. J Fla Med Assoc. 1961;48:541

  • Brody HJ. Peeling químico e resurfacing. 2a ed. Rio de Janeiro: Re- ichmann & ffonso; 2000.

  • Brody HJ, Hailey CW. Medi- um depth chemical peeling of the skin: a variation of superficial che- mosurgery. J Dematol Surg Oncol. 1986;12:1268.

  • Butler PE, Gonzalez S, Ran- dolph MA, Kim J, Kollias N, Yaremchuk MJ. Quantitative and qualitative ef- fects of chemical peeling on photoag- ed skin: an experimental study. Plast Reconstr Surg. 2001;107(1):222–8.

  • Eller JJ, Wolf S. Skin peeling and scarification. JAMA. 1941;116:934–8.

  • Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera MS, Dreno B. Chem- ical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2010;24(3):281–92.

  • Guedes LS. Hidroxiácidos. In: Costa A, editor. Tratado internacion- al de cosmecêuticos. Rio de Janeiro: Guanabara Koogan; 2012. p. 365–73.

  • Kede MP. Peelings químicos superficiais e médios. In: MPV K, Sa- batovich O, editors. Dermatologia Es- tética. 3a ed. São Paulo: Ed. Atheneu; 2015. p. 601–34.

  • Monheit G. The Jessner’s þ TCA peel: a medium depth chemical peel. J Dematol Surg Oncol. 1989;15:945.

  • Tung RC, Bergfeld WF, Vidi- mos AT, Remzi BK. Alpha- hydroxy ac- id-based cosmetic procedures. Guide- lines for patient management. Am J Clin Dermatol. 2000;1 (2):81–8.

  • Van Scott EJ, Yu RJ. Hyperke- ratinization, corneocyte cohesion, and alpha hydroxy acids. J Am Acad Der- matol. 1984;11:867–79.

  • Van Scott EJ, Ditre CM, Yu RJ. Alpha-hydroxyacids in the treatment of signs of photoaging. Clin Dermatol. 1996;14(2):217–26.

  • Yokomizo VMF, Benemond TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel- ings químicos: revisão e aplicação prática. Surg Cosmet Dermatol.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét