LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

PEEL HÓA CHẤT CHO NGƯỜI CÓ DA TỐI MÀU (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

CHỈ ĐỊNH VÀ MẸO THỰC HÀNH

Mụn trứng cá và viêm giả nang lông vùng râu

Peel điều trị mụn và viêm giả nang lông vùng râu được chỉ định dựa vào khả năng ly sừng, kháng viêm và làm sáng da của những thành phần của chất peel. Peel hóa chất trong điều trị trứng cá là lựa chọn tốt vì phương pháp này không chỉ giúp giải quyết những mụn viêm mà còn giải quyết luôn tình trạng tăng sắc tố sau viêm.

Nếu không có tổn thương viêm, có thể tiến hành peel kim cương hoặc tinh thể vật lí trước khi peel hóa học. Chúng ta có thể phối sử dụng phối hợp (peel vật lí + hóa học) với salicylic acid 20% hoặc dung dịch Jessner.

Một lựa chọn điều trị khác là bôi salicylic acid ở nồng độ cao hơn (30%) lên từng mụn viêm.
Thêm một phương án nữa là peel dung dịch retinoic acid dưới 7% và lưu lại trên da từ 4-6 tiếng.

Peel alpha-hydroxyacid được báo cáo là một lựa chọn điều trị tốt; tuy nhiên cần phải tiến hành trung hòa sau peel do đó, người lựa chọn phương pháp này nên là những bác sĩ đã có kinh nghiệm tốt.

Peel Hóa Chất Cho Người Có Da Tối Màu 

Nám má

Nám má là một trong những bệnh phổ biến đối với bệnh nhân ở châu Phi. Tỉ lệ bệnh này lớn nhất là ở những người có phân loại da IV đến VI theo phân loại của Fitzpatrick, chủ yếu là người châu Phi, người Mỹ gốc Phi, Tây Ban Nha và người châu Á.

Dung dịch Jessner được chỉ định dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với các loại peel khác.
Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm trong phương phương pháp peel gọi là Cimel, và ưa chuộng sử dụng công thức Cimel điều chỉnh gồm chứa 3% hydroquinone, 3% kojic acid, 3% ret- inoic acid, 3% lactic acid, 9% salicylic acid, 3% ascorbic acid, và 1% trong thành phần gel kem đệm.
Một lựa chọn khác là peel đệm glycolic acid (70%) riêng lẻ hoặc phối hợp với retinoic acid 3-7%.

Tăng sắc tố sau viêm

Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm điều trị vấn đề này bằng cách sử dụng peel nông phối hợp giữa salicylic acid với retinoic acid.
Khuyến khích sử dụng những chất làm trắng và chống nắng hằng ngày ở nhà.
Bảng 2 và 3 đưa ra mức độ bằng chứng và độ mạnh của khuyến cáo đối với rất nhiều chất peel khác nhau đối với da màu dựa vào những y văn hiện nay (Roberts 2004; Sarkar 2012; Rul- lan và Karam 2010).

Bảng 2: Mức độ bằng chứng và độ mạnh khuyến cáo đối với các hóa chất peel khác nhau cho người da màu.

Peel glycolic acid II-I A

Dung dịch Jessner II-iii B

Peel lactic acid II-iii B

Peel phytic acid III C

Peel pyruvic acid III C

Peel salicylic acid II-iii B

Peel trichloroacetic acid II-iii B

Bảng 3: Mức độ chứng cứ trong phân loại các thử nghiệm lâm sàng của Lực lượng phòng ngừa dịch vụ đặc biệt Hoa Kỳ (USPSTF)

Mức độ chứng cứ

I chứng cứ thu được từ ít nhất một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng được thiết kế một cách hợp lí

II-i chứng cứ thu được từ một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng được thiết kế rất tốt nhưng không ngẫu nhiên

II-ii chứng cứ thu được từ một nghiên cứu cohort hoặc nghiên cứu phân tích trường hợp có đối chứng, loại nghiên cứu đa trung tâm.

II-iii chứng cứ thu được từ quan sát chuối thời gian có hay không có sự can thiệp; kết quả khác biệt trong thử nghiệm không đối chứng cũng có thể được phân loại ở mức độ này.

III ý kiến của những tác giả có uy tín dựa vào kinh nghiệm lâm sàng, nghiên cứu mô tả hoặc báo cáo của các hội đồng chuyên da.

IV không đủ chứng cứ do lỗi phương pháp nghiên cứu (ví dụ: kích thước đơn giản, hoặc độ dài theo dõi khoog đủ hoặc mâu thuẫn bằng chứng)

Độ mạnh khuyến cáo

A có chứng cứ mạnh ủng hộ việc sử dụng thủ thuật

B có chứng cứ trung bình ủng hộ việc sử dụng thủ thuật

C có chứng cứ yếu ủng hộ việc sử dụng thủ thuật

D có chứng cứ trung bình phản đối việc sử dụng thủ thuật

E có chứng cứ mạnh phản đối việc sử dụng thủ thuật.


LỰA CHỌN BỆNH NHÂN

Bệnh nhân cần phải hợp tác và cần hiểu toàn bộ những bước tiến hành thủ thuật bao gồm chăm sóc trước và sau thủ thuật. Toàn bộ lợi ích và tác dụng phụ, cũng như hạn chế của thủ thuật nên được giải thích kĩ cho bệnh nhân để tránh những kì vọng không thực tế từ bệnh nhân (Roberts 2004; Rullan và Karam 2010).

Bác sĩ nên lưu ý hoặc không chỉ định peel hóa chất ở những bệnh nhân có da tối màu, những người có tiền sử gia đình có sẹo phì đại hoặc sẹo lồi. Peel hóa chất không phải là chỉ định tốt đối với những bệnh như viêm da tiếp xúc, viêm da tiết bã, trứng cá đỏ, da nhạy cảm, bạch biến, và vảy nến. Những người hút thuốc có thời gian hồi phục da chậm. Chống chỉ định ở những bệnh nhân đã xạ trị, có phẫu thuật và sử dụng retinoid uống gần đây vì ảnh hưởng đến quá trình biến chuyển collagen. Peel được tiến hành 6-12 tháng sau khi ngưng dùng reti- noid đường uống để tránh ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương của da. Cần hỏi kĩ bệnh nhân xem họ có đang dùng thuốc nhạy cảm ánh sáng (cy- clins, amiodarone, thiazides, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, NSAIDs) không vì có thể làm tăng sắc tố sau thủ thuật (Salam 2013; Roberts 2004; Rullan và Karam 2010).

TRƯỚC KHI PEEL

Bệnh nhân nên được khuyên sử dụng chống nắng và chất làm trắng như hydroquinone, retinoic acid, gly- colic acid, hoặc bộ ba phối hợp hydro- quinone+retinoic acid+ corticosteroid
(công thức Kligman) với mục đích chuẩn bị da trước peel trong ít nhất 2 tuần trước thủ thuật. Những sản phẩm này có thể ngưng 3 ngày trước thủ thuật. Không nên tẩy da chết và triệt lông trong vòng 7 ngày trước thủ thuật. Việc tuân thủ những lời khuyên trên sẽ làm giảm biến chứng đặc biệt là rối loạn sắc tố sau viêm. Nếu bệnh nhân có lịch sử tái phát bệnh herpes thì nên dự phòng cho bệnh nhân với thuốc kháng virus, như valacyclovir 500mg- 12/12 h trong 5 ngày, bắt đầu từ 2 ngày trước khi điều trị. Bệnh nhân cần kí xác nhận vào phiếu đồng ý, trong phiếu phải ghi rõ lợi ích và những nguy cơ của thủ thuật. Chụp ảnh trước và sau điều trị là công cụ hữu ích để đánh giá kết quả, tránh những phàn nàn có thể về thủ thuật.

THỦ THUẬT PEEL

Nên lựa chọn peel theo chỉ định. Tuy nhiên, vì nhiều loại peel nông có thể mang lại hiệu quả lâm sàng tương tự nhau, bác sĩ nên lựa chọn loại peel mà họ có nhiều kinh nghiệm sử dụng hơn để tránh tác dụng phụ. Chúng tôi khuyến cáo sử dụng tất cả những loại peel đã được đề cập đến trước đó, ngoại trừ trichloroacetic acid, và phải nhớ rằng không khuyến cáo sử dụng peel sâu đối với người có phân loại da mức V và VI.

Đầu tiên, da phải được rửa sạch để tẩy trang, loại bỏ kem chống nắng, mỹ phẩm và tẩy nhờn da nhằm chuẩn bị cho quá trình bôi hóa chất. Bệnh nhân nên rửa mặt với xà phòng hoặc sửa rữa mặt không chứa xà phòng và nước, sau đó tẩy toàn bộ những phần cặn còn lại bằng gạc thấm cồn, acetone hoặc Hoffman lỏng, di chuyển gạc liên tục, mạnh cho đến khi da sạch và hết nhờn. Tùy thuộc và số lần chùi và lực tay, bước này cũng có thể giúp loại bỏ lớp tế bào rất nông của lớp sừng. Điều này giúp hóa chất peel có thể thấm đồng nhất vào da.

Để tránh gây viêm vùng quanh mắt, mũi hoặc môi, nên bôi petrola- tum hoặc các loại kem khác ở vùng này trước thủ thuật, chủ yếu là trong peel salicylic acid. Trong quá trình peel nên trùm tóc bằng mủ trùm tóc.

Có thể chuẩn bị hóa chất peel trong các loại dung môi khác nhau và được bôi theo cách tùy thuộc vào sở thích của người bác sĩ như bôi bằng tay đeo găng, tăm bông, vật làm bằng gỗ (như tăm và que đè lưỡi). Với dung môi đặc có thể bôi bằng găng. Hầu hết các công thức được chuẩn bị trong dung môi là nước hoặc dạng cồn-nước, do đó tăm bông và gạc thường được sử dụng để bôi hơn. Khi peel, nên chia mặt thành các vùng giải phẫu và bắt đầu bôi ở vùng trán, đến vùng má và mũi, cuối cùng là vùng cằm.

Như chúng ta đã biết, độ sâu của peel và mức độ đáp ứng viêm phụ thuộc vào nồng độ của hóa chất; thể tích bôi (số lượt bôi); áp lực đè lên da khi rửa mặt và khi peel; và khoảng thời gian da tiếp xúc với hóa chất peel, chủ yếu trong trường hợp cần trung hòa để ngưng tác dụng của hóa chất. Thủ thuật peel càng mạnh càng gây viêm nhiều và có thể khiến da chậm phục hồi từ đó gây nguy hiểm đối với những bệnh nhân có da tối màu. Tùy theo mức độ dung nạp của bệnh nhân, những lần peel tiếp theo có thể mạnh hơn và có thể test trước trên một
vùng da nhỏ ở vị trí che khuất (vùng sau dái tai). Một điều cần lưu ý là nên tăng khoảng cách thời gian giữa các lần peel đối với những người da đen để hạn chế biến chứng. Cần đặc biệt lưu ý đối với những vùng ngoài mặt là những nơi có ít đơn vị nang lông- tuyến bã, tỉ lệ phục hồi thấp và nguy cơ tác dụng phụ cao (Roberts 2004).

SAU PEEL

Bệnh nhân nên dùng kem dưỡng ẩm, làm dịu da, thúc đẩy lành vết thương ngay và trong 1 vài giờ sau khi tiến hành thủ thuật, và rửa nước ấm vài lần mỗi ngày. Đối với da dầu dễ bị mụn thì nên sử dụng dưỡng ẩm không có chất sinh còi mụn, không chứa dầu (oil-free and noncomedo- genic). Bôi corticosteroid ở những vùng da viêm hoặc đỏ kéo dài để giảm nguy cơ rối loạn sắc tố sau viêm. Dùng chống nắng là bắt buộc. Nhìn chung, bệnh nhân có thể trở lại với những chăm sóc da hàng ngày sau 7 ngày từ ngày điều trị. Cũng ở thời gian này, bác sĩ da nên đánh giá lại bệnh nhân và cho bệnh nhân sử dụng các chất làm trắng.

TÁC DỤNG PHỤ

Kể cả peel nông cũng có thể để lại sẹo hoặc giảm sắc tố ở những bệnh nhân có da dễ tổn thương. Đỏ da và tăng sắc tố là những tác dụng phụ phổ biến nhất và thỉnh thoảng gây khó khăn trong điều trị chúng. Ngay khi phát hiện đỏ da kéo dài nên sử dụng corticoid mạnh càng sớm càng tốt (Salam 2013).

Phản ứng dị ứng nếu xảy ra cũng có thể được điều trị bằng corticosteroid bôi.
Mụn và phát ban dạng mụn cũng có thể được điều trị bằng các thuốc điều trị thông thường (có thể làm giảm tình trạng mụn bằng cách lấy còi mụn trước khi tiến hành peel).

Nhiễm nấm và vi khuẩn rất hiếm khi xảy ra và có thể dự phòng bằng cách chăm sóc và giữ vệ sinh; với herpes có thể được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus ở những bệnh nhân đã được lựa chọn.

GHI NHỚ

  • Bác sĩ da liễu cần thiết phải biết những đặc tính riêng biệt của da đen, giải phẫu ở những bệnh nhân này, ngoài ra còn phải nắm về tiêu chuẩn của cái đẹp, văn hóa riêng biệt và mong muốn của bệnh nhân.
  • Trong khi peel hóa chất ở hầu hết người da trắng là để điều trị lão hóa da ánh sáng, nếp nhăn nhỏ thì ở người da đen peel đa số dùng để giải quyết những vấn đề về nám, tăng sắc tố sau viêm, mụn trứng cá, và viêm giả nang lông ở vùng râu.
  • Điều quan trọng là cần phải hiệu chỉnh những kĩ thuật peel hóa chất đối với những người có phân loại da cao hơn, vì da đen có nguy cơ cao bị tác dụng phụ của peel như giảm sắc tố, tăng sắc tố và sẹo.
  • Những loại peel hiệu quả đối với da tối mà là peel glycolic acid, sal- icylic acid, retinoic acid và dung địch Jessner. Những kĩ thuật thuật hiệu quả là peel điểm và peel phối hợp.
  • Peel hóa chất là lựa chọn mang lại hiệu quả tốt khi điều trị trứng cá ở bệnh nhân da tối màu.
  • Peel điểm có thể được sử dụng đối với những tổn thương khu trú. Phối hợp peel phổ biến nhất cho mục đích này là salicylic acid (20-30%), dung dịch Jessner và TCA (20-30%).
  • Peel dung dịch Jessner có thể được chỉ định riêng lẻ hoặc phối hợp để điều trị nám má.
  • Một lựa chọn khác để điều trị nám má được gọi là Cimel (kiểm tra thành phần trong mục CHỈ ĐỊNH và TIPS).
  • Peel salicylic acid + peel reti- noic acid là lựa chọn tốt để peel tăng sắc tố sau viêm ở bệnh nhân da tối màu. Cần phải hết sức cẩn thận khi peel trung bình và không nên peel sâu ở bệnh nhân có da tối màu.
  • Để đạt được kết quả tốt và tránh biến chứng, bệnh nhân có thể điều trị hàng ngày ở nhà bằng những chất làm trắng và chống nắng (hóa học hoặc vật lí) trước khi tiến hành điều trị peel.

THAM KHẢO

Al-Waiz MM, Al-Sharqi AI. Me- dium-depth chemical peels in the treatment of acne scars in dark-skinned individuals. Dermatol Surg. 2002;28(5):383–7.

Been MJ, Mangat DS. Laser and face peel procedures in non-Cauca- sians. Facial Plast Surg Clin North Am. 2014;22(3):447–52.

Burns RL, Prevost-Blank PL, Lawry MA, Lawry TB, Faria DT, Fiv- enson DP. Glycolic acid peels for post inflam- matory hyperpigmentation in black patients. A compar- ative study. Dermatol Surg. 1997;23(3):171–4; dis- cussion 175.

Chun EY, Lee JB, Lee KH. Focal trichloroacetic acid peel method for be- nign pigmented lesions in dark-skinned patients. Dermatol Surg. 2004;30(4 Pt 1):512–6; dis- cussion 516.

Davis EC, Callender VD. Aesthet- ic dermatology for aging ethnic skin. Dermatol Surg. 2011;37(7):901–17.

Grimes PE. The safety and effica- cy of salicylic acid chem- ical peels in darker racial-ethnic groups. Dermatol Surg. 1999;25(1):18–22.

Khunger N, Sarkar R, Jain RK. Tretinoin peels versus glycolic acid peels in the treatment of Melasma in dark- skinned patients. Dermatol Surg. 2004; 30(5):756–60.

Roberts WE. Chemical peeling in ethnic/dark skin.

DermatoTher. 2004;17(2):196–Facial Plast Surg Clin North Am. 2010;18(1):111–31.

Salam A, Dadzie OE, Galadari

H. Chemical peeling in ethnic skin: an update. Br J Dermatol. 2013;169 Suppl 3:82–90.

Sarkar R, Bansal S, Garg VK. Chemical peels for melasma in dark- skinned patients. J Cutan Aesthet Surg. 2012; 5(4):247–53.

205.

Rullan P, Karam AM. Chemical

peels for darker skin types.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét