LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

 PEEL TRUNG BÌNH VÀ SÂU (PHẦN 1) 

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: Peel trung bình và peel sâu (Phần 2)

GHI NHỚ

  • Cần thiết phải phân biệt giữa các di chứng sau mụn trứng cá và sẹo thực sự để có thể lựa chọn đúng công cụ điều trị.
  • Các di chứng sau mụn trứng cá có thể được điều trị bằng peel nông và peel trung bình, trong khi sẹo thật sự đòi hỏi cách tiếp cận sâu hơn hoặc sử dụng các phương pháp điều trị phối hợp.
  • Mức độ hài long cao nhất khi peel hóa chất được thấy ở các bệnh nhân già bị sẹo vì peel sâu hơn còn có thể giải quyết vấn đề lão hóa da mặt.
  • Mức độ frosting khi peel TCA có liên quan với độ sâu mà dung dịch xâm nhập vào da.
  • Peel sâu toàn mặt cần phải được thực hiện với sự theo dõi tim phổi đầy đủ và đạt đường truyền tĩnh mạch.

Giới thiệu

Peel hóa chất là thủ thuật được sử dụng để cải thiện thẩm mỹ da hoặc là phương pháp để điều trị các vấn đề về da. Mặc dù một vài năm trước người ta dự đoán rằng peel hóa chất sẽ dần ít được ưa chuộng hơn so với công nghệ laser, nhưng điều ngược lại đã xảy ra [1]. Theo trang web chính thức của Hội Bác Sĩ Phẫu Thuật Thẩm Mỹ Hoa Kỳ (American Society of Plastic Surgeons- ASPS) thì peel hóa chất vẫn là thủ thuật xâm lấn tối thiểu phổ biến đứng hàng thứ 3, tăng 4% giữa 2015 và 2016 (tương tự với thủ thuật tiêm botulinum toxin) và báo cáo cho thấy từ năm 2000 đến năm 2016 tỉ lệ tăng là 18% (http://www.plasticsurgery.org ). Lưu ý, vào năm 2012, theo nhu cầu về đào tạo thủ thuật peel hóa chất của các chuyên gia thì Hội Peel Da Quốc Tế (International Peeling Society) đã được thành lập (http://www.peelingsociety.com).

Sự phổ biến của peel hóa chất bắt nguồn từ đặc tính linh hoạt và sự đơn giản của phương pháp này. Trong quá trình peel, một loại hóa chất gây bong da được bôi lên bề mặt da để phá hủy một phần lớp thượng bì và/hoặc lớp bì từ đó kích thích sự tái tạo và trẻ hóa của mô da. Thủ thuật peel hóa chất được phân loại thành peel nông, peel trung bình và peel sâu tùy thuộc vào độ sâu mà dung dịch peel xâm nhập vào da. Độ sâu của peel sẽ quyết định đến kết quả cuối cùng, và tỉ lệ thuận với mức độ bất tiện cho bệnh nhân trong và sau thủ thuật, thời gian lành vết thương, và tỉ lệ mắc phải tác dụng phụ [2].

Mụn trứng cá là bệnh lí phổ biến ảnh hưởng đến gần như 100% thanh thiếu niên [3, 4]. Ngoài ra mụn trứng cá còn xuất hiện ở rất nhiều lứa tuổi khác nhau. Sẹo có thể xuất hiện trong giai đoạn sớm của mụn trứng cá và ảnh hưởng đến rất nhiều bệnh nhân trên cả hai giới [6]. Sẹo trứng cá nhẹ có thể xuất hiện lên tới 95% bệnh nhân mụn trứng cá, và sẹo trứng cá nặng có tỉ lệ khoảng 22% [7]. Sự khác biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào đóng vai trò trong xu hướng hình thành sẹo sau mụn ở mỗi cá nhân [8].

Sẹo trứng cá là sự khiếm khuyết mang tính xã hội đối với mỗi cá nhân, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chỉ số chất lượng cuộc sống (qual- ity-of-life index) [9]. Làn da khỏe mạnh bình thường là sự cần thiết cho hạnh phúc của mỗi người. Một nghiên cứu được công bố gần đây chứng mình rằng lòng tự trọng, sự tự tin của những người được peel hóa chất cho cả mục đích thẩm mỹ hay điều trị đều có sự cải thiện đáng kể sau khi làm thủ thuật [10]. Điều này có thể được giải thích bởi sự thật rằng các thương tổn trên da khi chưa được điều trị bằng thủ thuật peel hóa chất đã có ảnh hưởng mạnh mẽ lên cảm xúc của bệnh nhân thông qua việc thay đổi cảm nhận về hình ảnh bản thân của họ, từ đó làm họ trở nên ngại ngùng và thiếu tự tin [11].

Sẹo trứng cá được phân thành 3 loại dựa vào đặc điểm lâm sàng: sẹo dạng dát, sẹo rỗ, và sẹo phì đại. Sẹo dạng dát chủ yếu là các dát đỏ hoặc tăng sắc tố hoặc mất sắc tố, mà không có sự thay đổi về cấu trúc [12]. Để đưa ra lựa chọn điều trị, sẹo dạng dát có thể được phân loại là di chứng nông sau mụn trứng cá. Do đặc tính ở nông, sẹo dạng này có thể dễ dàng được giải quyết bằng các phương pháp điều trị nông bao gồm thủ thuật peel nông [13,14].

Sẹo phì đại liên quan đến sự tăng sinh không kiểm soát và sự sắp xếp bất thường của các sợi collagen ở lớp bì và được điều trị bằng phương pháp tiêm corticosteroids hoặc 5-fluorouracil [15-18].

Sẹo lõm liên quan đến cả các lớp nông và lớp sâu của da. Đây là loại sẹo thường gặp nhất trong các loại sẹo xuất hiện sau khi bị mụn trứng cá trên mặt. Tùy theo hình dạng cụ thể mà sẹo lõm sẽ được chia thành sẹo ice pick, sẹo boxcar, và sẹo rolling [19] (hình 5.1).

HÌNH 5.1 Phân loại sẹo trứng cá lõm

Không có gì nghi ngờ khi nói rằng điều trị sẹo lõm trứng cá là một thử thách đối với các bác sĩ da liễu. Cần thiết phải phối hợp nhiều phương pháp. Một vài thủ thuật trong đó có thể sẽ phải gây tổn thương da và có thời gian hồi phục dài hơn. Do đó, sự giao tiếp thảo luận giữa bệnh nhân và bác sĩ là yếu tố cần thiết quyết định sự thành công. Mặc dù có rất nhiều phương pháp can thiệp khác nhau được đưa ra để điều trị sẹo lõm trên mặt, một bài tổng quan nghiên cứu gần đây được công bố bởi Cocharane Database về các phương thức can thiệp trong điều trị sẹo trứng cá đã thất bại trong việc tìm ra phương pháp an toàn và hiệu quả nhất để kiểm soát vấn đề này [20]. Trong chương này, tôi sẽ bàn luận về vai trò của peel hóa chất trong điều trị sẹo lõm sau mụn trứng cá.

Lịch sử ứng dụng peel hóa chất trong điều trị sẹo trứng cá

Trở về năm 1905, các pương pháp phẫu thuật đã từng được sử dụng để cải thiện tình trạng sẹo mụn trên mặt. Một trăm năm trước, hai bác sĩ da liễu ở New York, George Mackee và Florentine Karp đã bắt đầu sử dụng peel phenol để điều trị sẹo trứng cá [21]. Sau đó, cùng với sự phát triển của các công nghệ y khoa mới, các phương pháp điều trị sẹo trứng cá mới đã dần ra đời [22-38].
Peel hóa chất được ứng dụng trong điều trị sẹo lõm sau mụn trứng cá ở mặt bao gồm peel trung bình và peel sâu, phối hợp peel trung bình và peel sâu, và kỹ thuật tái cấu trúc sẹo bằng hóa chất (CROSS) bằng cách chấm trichloroacetic acid (TCA) nồng độ cao vào bên trong lòng sẹo [21,39-52].

Hóa chất cơ bản

TCA là hóa chất được sử dụng nhiều nhất để peel trung bình. TCA (C[Cl]3COOH) được tìm thấy ở dạng tinh thể khan, hút ẩm. TCA là một acid mạnh có pKa là 0.26. Hoạt tính phá hủy của acid này thay đổi tùy theo độ acid của dung dịch; do đó dung dịch TCA nồng độ càng cao thì gây phá hủy da càng mạnh.
Những hóa chất khác được sử dụng trong công thức peel sâu gồm septisol, nước, và dầu thực vật (glycerin, olive, sesame).
Tất cả các công thức phenol hiện đại đều được dựa trên và được điều chỉnh từ công thức của một số ít các tác giả. Những cái tên như Grade, Coopersmith, Kelsen, và Maschek là cha đẻ của các công thức Baker-Gor- don, Brown, Hetter, Stone, Litton, Exoderm, và những công thức khác. Tất cả các công thức đều được pha chế dựa trên các thành phần được đề cập ở trên và khác nhau về nồng độ các chất. Trong đó nồng độ của phenol từ 45% đến 80%, còn nồng độ của dầu Croton từ 0.16% đến 2.05%. Có sự đồng thuận chung về vai trò của dung dịch xà phòng trong việc làm giảm sức căng bề mặt da và làm tăng tính thấm của dung dịch peel [47-51]. Dù vậy, septisol không phải là thành phân luôn có mặt trong các công thức peel sâu [52]. Một vài trong các công thức đó có thành phần là dầu [47- 49]. Vai trò của dầu trong các công thức peel vẫn chưa được làm sáng tỏ. Kinh nghiệm cá nhân của chúng tôi cho thấy rằng dung dịch phenol chứa dầu xâm nhập vào da chậm hơn và theo cách dễ kiểm soát hơn.

Kỹ thuật peel

Peel trung bình

TCA là hóa chất được sử dụng rộng rải nhất để peel trung bình. TCA nồng độ 10%-20% có thể tạo ra peel nông, nếu ở nồng độ 35% TCA peel da đến lớp bì trên. Nồng độ trên 35% không được khuyến cáo vì kết quả thu được khó dự đoán và nguy cơ để lại sẹo tăng cao. Để làm tăng độ sâu và hiệu quả của peel TCA mà không cần phải tăng nồng độ acid, có thể phối hợp TCA với dung dịch Jessner, glycolic acid 70% hoặc carbon diox- ide đặc (CO2). Mài da bằng giấy nhám (sandpaper dermabrasion) ở vùng sẹo có thể phối hợp với peel TCA để làm tăng hiệu quả của quá trình peel.

Dung dịch TCA được pha chế theo phương pháp trọng lượng/thể tích. 35g tinh thể TCA được hòa tan vào trong nước để tạo dung dịch với thể tích tổng là 100ml. TCA ổn định ở nhiệt độ phòng và không nhạy cảm ánh sáng.


Sự chuẩn bị da trước khi thực hiện thủ thuật đóng vai trò rất quan trọng. Kem bôi retinoid (0.025%-0.1%), dưỡng ẩm chứa glycolic acid, hoặc sản phẩm có chứa hydroquinone có thể được sử dụng, bắt đầu 2-6 tuần trước khi tiến hành thủ thuật. Thuốc kháng virus herpes đường uống có thể được chỉ định ngay trong ngày trước khi làm thủ thuật sau đó tiếp tục liệu trình trong 10 ngày đối với bệnh nhân có tiền sử nhiễm herpes. Trước khi bắt đầu thủ thuật, tất cả các bệnh nhân phải được chụp ảnh và lấy phiếu đồng ý làm thủ thuật.

Trước khi bôi dung dịch peel, cần rửa da bằng dung dịch xà phòng; sau bước này có thể tiến hành tẩy nhờn bằng acetone. Bệnh nhân có thể dung nạp tốt với phương pháp peel bằng TCA. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp có thể cần phải gây mê tĩnh mạch để tiến hành thủ thuật, nhưng ở hầu hết các trường hợp có thể phối hợp thuốc an thần đường uống như lorazepam, zolpiderm, alprazolam, hoặc diazepam với thuốc giảm đau như tramadol là đủ.

Khi bôi TCA, tăm bông Q-típ hoặc gạc phải được nhúng vào trong dụng cụ nhỏ đựng dung dịch peel và vắt vừa phải để tránh nhỏ dung dịch lên những vùng không mong muốn. Nếu sử dụng gạc có thể giúp đạt tác dụng ăn mòn sâu hơn. Nếu TCA được bôi bằng tăm bông Q-tip thì sẽ tạo ra tác dụng nông hơn. Loại tăm bông Q-tip có sẵn thường quá chặt và không hút đủ lượng dung dịch peel. Trong thực hành lâm sàng của mình tôi phải quấn thêm một lớp bông mềm ở đầu tăm bông có sẵn. Trong điều trị sẹo ở vùng da mặt, chúng tôi sử dụng cả hai dụng cụ này để thay thế cho nhau trong một lần điều trị đơn lẻ tùy thuộc vào mức độ tổn thương của mỗi vùng. Cho dù với bất kì dụng cụ nào, dung dịch TCA được bôi một cách có hệ thống theo các đơn vị thẩm mỹ trên mặt cho đến khi xuất hiện lớp frost màu trắng. Cần phải lưu ý rằng lớp frost không xuất hiện ngay sau khi bôi dung dịch.

Do đó bác sĩ tiến hành phải theo dõi bệnh nhân trong quá trình thực hiện peel TCA. Mức độ frosting cuối cùng có mối liên hệ với độ sâu mà dung dịch xâm nhập vào da. Frosting độ I sẽ xuất hiện các đốm frosting trắng trên nền da đỏ nhẹ và tương ứng với peel nông. Frosting độ II được đặc trưng bởi một lớp frost trắng phủ trên nền đỏ da (hình 5.2). Mức độ frosting này là điểm cuối lâm sàng mong muốn đạt được khi peel trung bình. Nếu frosting mức độ 2 không đạt được sau 2 phút bôi dung dịch peel, nên bôi thêm một lớp dung dịch TCA sau khi nhúng tăm bông hoặc gạc vào dung dịch thêm một lần nữa. Frosting mức độ III xuất hiện với một lớp frost trắng đục và không hoặc rất ít nền đỏ da phía dưới tương ứng với mức độ peel sâu và không được khuyến cáo đối với peel TCA.

HÌNH 5.2 frosting mức độ II trong khi peel TCA 35%

Mức độ frosting cũng liên quan tới mức độ bỏng rát mà bệnh nhân cảm nhận được. Nếu bệnh nhân không được sử dụng thuốc an thần thì khi xuất hiện lớp frost có thể làm lạnh vùng da bằng cách sử dụng gạc ướt, lạnh để giảm triệu trứng cho bệnh nhân và không cần phải trung hòa TCA. Bệnh nhân thường sẽ trở nên dễ chịu hoàn toàn từ 15-20 phút sau thủ thuật khi lớp frost tan dần.

Sau peel cần phải làm ẩm da liên tục. Trong vài ngày tiếp theo bệnh nhân có thể cảm thấy da mặt căng và phù, đi kèm theo đó là màu da sẽ bị sạm dần đi do sự xuất hiện lớp mài. Vào ngày thứ 3 hoặc thứ 5, mài bắt đầu nứt và bong ra. Trong giai đoạn này, có thể bôi kem dưỡng ẩm. Quá trình tái tạo thượng bì hoàn tất sau 5-7 ngày. Trong giai đoạn này, bệnh nhân nên dùng kem trang điểm để ngụy trang và quay trở lại với các hoạt động thường ngày. Khuyến cáo bệnh nhân nên sử dụng dưỡng ẩm và chống nắng có chỉ số SPF cao trong 2-3 tuần tiếp theo. Trong trường hợp tiên lượng sẽ xuất hiện tăng sắc tố sau viêm, thì có thể chuẩn bị da bằng cách phối hợp retinoic acid và hydroquinone trước đó.

Cơ chế tác dụng của peel trung bình là quá trình tái phân cực các tế bào sừng (keratinocyte) và làm tăng nồng độ collagen type I [53].

Sẹo lõm ice pick luôn được xem là thử thách lớn vì không thấy được sử cải thiện trong hầu hết các phương pháp điều trị. Chấm TCA nồng độ cao tại chỗ đã được báo cáo là phương pháp có hiệu quả trong điều trị loại
sẹo ice pick này và phương pháp này được đặt tên là CROSS [44-46]. Trong kĩ thuật này, dung dịch TCA 80%-100% tính theo công thức cân nặng/ thể tích được bôi bằng cách sử dụng dụng cụ bôi nhọn (tăm xỉa răng là sự lựa chọn tốt) để bôi trực tiếp bên trong sẹo ice pick và không gây ảnh hưởng đến vùng da xung quanh. Lớp frosting trắng xuất hiện bên trong sẹo ice pick ngay sau khi bôi dung dịch peel. Thủ thuật này có thể phối hợp với peel trung bình toàn mặt. Điều trị theo phương pháp CROSS có thể được lặp lại mỗi 6 tuần cho đến khi đạt được hiệu quả chỉnh sửa mong muốn. Những sự thay đổi về mô học sau khi thực hiện kĩ thuật CROSS đã được ghi nhận [54].

Tài liệu tham khảo:

1. Baker TM. Chemical and lasers for skin resurfacing. Aesthetic Surg. 1999;19:325–7.

2. Landau M. Chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:200–8.

3. Burton JL, Cunliffe WJ, Stafford I, Shuster S. The prevalence of acne vulgaris in adolescence. Br J

Dermatol. 1971;85:119–26.

4. Rademaker M, Garioch JJ, Simpson NB. Acne in schoolchildren: No longer a concern for dermatologists.

BMJ 1989;298:1217–9.

5. Cunliffe WJ, Gould DJ. Prevalence of facial acne vulgaris in late adolescence and in adults. BMJ.

1979;1:1109–10.

6. Layton AM, Henderson CA, Cunliffe WJ. A clinical evaluation of acne scarring and its incidence.

Clin Exp Dermatol. 1994;19:303–8.

7. Handog EB, Datuin MS, Singzon IA. Chemical peels for acne and acne scars in Asians: Evidence based

review. J Cutan Aesthet Surg 2012;5:239–46.

8. Holland DB, Jeremy AHT, Roberts SG, Seukeran DC, Layton AM. Inammation in acne scarring:

A comparison of the responses in lesions from patients prone and not prone to scar. Br J Dermatol.

2004;150:72–81.

9. Chuah SY, Goh CL. The impact of post acne scars on the quality of life among young adults in Singapore.

J Cutan Aesthet Surg. 2015;8:153–8.

10. Kouris A, Platsidaki E, Christodoulous C, Efstathiou V, Markantoni V, Armyra K, Potouridou I,

Rigopoulos D, Kontochristopoulos G. Patients’ self-esteem before and after chemical peeling procedure.

J Cosmet Laser Ther. 2017;29:1–3.

11. Bolton MA, Lobben I, Stern TA. The impact of body image on patient care. Prim Care Companion J Clin

Psychiatry. 2010;12(2):PCC.10r00947.

12. Fife D. Evaluation of acne scars: How to assess them and what to tell the patient. Dermatol Clin.

2016;34:207–13.

13. Kurokawa I, Oiso N, Kawada A. Adjuvant alternative treatment with chemical peeling and subsequent iontophoresis for postinflammatory hyperpigmentation, erosion with inflamed red papules and non-inflamed atrophic scars in acne vulgaris. J Dermatol. 2017;44:401–5.


14. Sachdeva S. Lactic acid peeling in superficial acne scarring in Indian skin. J Cosmet Dermatol.

2010;9:246–8.

15. Ledon JA, Savas J, Franca K, Chacon A, Nouri K. Intralesional treatment for keloids and hypertrophic scars: A review. Dermatol Surg. 2013;39:1745–57.

16. Shah VV, Aldahan AS, Mlacker S, Alsaidan M, Samarkandy S, Nouri K. 5-Fluorouracil in the

treatment of keloids and hypertrophic scars: A comprehensive review of the literature. Dermatol Ther.

2016;6:169–83.

17. Gauglitz G. Management of keloids and hypertrophic scars: Current and emerging options. Clin Cosmet

Investig Dermatol. 2013;6:103–14.

18. Kant SB, van den Kerckhove E, Colla C, Tuinder S, van der Hulst RRWJ, Piatkowski de Grzymala

AA. A new treatment of hypertrophic and keloid scars with combined triamcinolone and verapamil: A

retrospective study. Eur J Plast Surg. 2018;41:69–80.

19. Jacob CI, Dover JS, Kaminer MS. Acne scarring: A classication system and review of treatment options. J Am Acad Dermatol. 2001;45:109–17.

20. Goodman GJ, Baron JA. Postacne scarring: A qualitative global scarring grading system. Dermatol Surg. 2006;32:1458–66.

21. Abdel Hay R, Shalaby K, Zaher H, Hafez V, Chi CC, Dimitri S, Nabhan AF, Layton AM. Interventions for acne scars. Cochrane Database Syst. Rev.. 2016;(4). Art. No.: CD011946.

22. Mackee GM, Karp FL. The treatment of post acne scars with phenol. Br J Dermatol. 1952;64:456–9.

23. Kurtin A. Corrective surgical planing of skin: New technique for treatment of acne scars and other skin

defects. AMA Arch Derm Syphilol. 1953;68:389–97.

24. Orentreich N. Dermabrasion. J Am Med Womens Assoc. 1969;24:331–6.

25. Knapp TR, Kaplan EN, Danieks JR. Injectable collagen for soft tissue augmentation. Plast Reconstr

Surg. 1977;60:398–405.

26. Forbat E, Ali FR, Al-Niaimi F. The role of llers in the management of acne scars. Clin Exp Dermatol.

2017;42:374–80.

27. Goodman GJ, Van Den Broek A. The modied tower vertical ller technique for the treatment of post-

acne scarring. Australas J Dermatol. 2016;57:19–23.

28. Halachmi S, Ben Amitai D, Lapidoth M. Treatment of acne scars with hyaluronic acid: An improved

approach. J Drugs Dermatol. 2013;12:e121–3.

29. Epstein RE, Spencer JM. Correction of atrophic scars with Artell: An open-label pilot study. J Drugs

Dermatol. 2010;9:1062–4.

30. Goldberg DJ, Amin S, Hussain M. Acne scar correction using calcium hydroxylapatite in a carrier-based

gel. J Cosmet Laser Ther. 2006;8(3):134–6.

31. Sadove R. Injectable poly-L-lactic acid: A novel sculpting agent for the treatment of dermal fat atrophy

after severe acne. Aesthetic Plast Surg. 2009;33:113–6.

32. Sulamanidze MA, Salti G, Mascceti M, Sulamanidze GM. Wire scalpel for surgical correction of soft

tissue contour defects by subcutaneous dissection. Dermatol Surg. 2000;26:146–50.

33. Garrett AB, Dufresne RG Jr, Ratz JL, Berlin AJ. Carbon dioxide laser treatment of pitted acne scarring.

J Dermatol Surg Oncol. 1990;16:737–40.

34. Alster TS, West TB. Resurfacing of atrophic facial acne scars with a high-energy, pulsed carbon dioxide

laser. Dermatol Surg. 1996;22:151–4.

35. Aust MC, Fernandes D, Kolokythas P, Kaplan HM, Vogt PM. Percutaneous collagen induction therapy:

An alternative treatment for scars, wrinkles, and skin laxity. Plast Reconstr Surg. 2008;121:1421–9.

36. Fabbrocini G, Annunziata MC, D’Arco V, DeVita V, Lodi G, Mauriello C, Pastore F, Monfrecola G.

Acne scars: Pathogenesis, classication and treatment. Dermatol Res Prac. 2010;(1687–6105). Article

ID 893080.

37. Forbat E, Al-Niaimi F. Fractional radiofrequency treatment in acne scars: Systematic review of current

evidence. J Cosmet Laser Ther. 2016;18:442–7.

38. Faghihi G, Poostiyan N, Asilian A, Abtahi-Naeini B, Shahbazi M, Iraji F, Fatemi Naeini F, Nilforoushzadeh

MA. Efcacy of fractionated microneedle radiofrequency with and without adding subcision for the

treatment of atrophic facial acne scars: A randomized split-face clinical study. J Cosmet Dermatol.

2017;16:223–9.39. Al-Waiz MM, Al-Shagri AI. Medium-depth chemical peels in the treatment of acne scars in dark-skinned individuals. Dermatol Surg. 2002;28:383–7.

40. Puri N. Efcacy of modied Jessner’s peel and 20% TCA versus 20% TCA peel alone for the treatment

of acne scars. J Cutan Aesthet Surg. 2015;8:42–5.

41. Dalpizzol M, Weber MB, Mattiazzi AP, Manzoni AP. Comparative study of the use of Trichloroacetic

Acid and Phenolic Acid in the treatment of atrophic-type acne scars. Dermatol Surg. 2016;4:377–83.

40 Acne Scars

42. Leheta T, El Tawdy A, Abdel Hay R, Farid S. Percutaneous collagen induction versus full-concentration

trichloroacetic acid in the treatment of atrophic acne scars. Dermatol Surg. 2011;37:207–16.

43. Lee JB, Chung WG, Kwahck H, Lee KH. Focal treatment of acne scars with trichloroacetic acid:

Chemical reconstruction of skin scars method. Dermatol Surg. 2002;28:1017–21.

44. Agarwal N, Gupta LK, Khare AK, Kuldeep CM, Mittal A. Therapeutic response of 70% trichloroacetic

acid CROSS in atrophic acne scars. Dermatol Surg. 2015;41:597–604.

45. Fabbrocini G, Cacciapuoti S, Fardella N, Pastore F, Monfrecola G. CROSS technique: Chemical

reconstruction of skin scars method. Dermatol Ther. 2008;21(3):S29–32.

46. Nofal E, Helmy A, Nofal A, Alakad R, Nasr M. Platelet-rich plasma versus CROSS technique with 100%

trichloroacetic acid versus combined skin needling and platelet rich plasma in the treatment of atrophic

acne scars: A comparative study. Dermatol Surg. 2014;40:864–73.

47. Fintsi Y. Exoderm chemabrasion: Original method for the treatment of facial acne scars. Int J Cosm Surg.

1998;6:111–4.

48. Fintsi Y, Kaplan H, Landau M. Whether to peel or laser for acne scarring and hyperpigmentation. Int J

Cosm Surg. 1999;7:67–70.

49. Park JH, Choi YD, Kim SW, Kim YC, Park SW. Effectiveness of modied phenol peel (Exoderm) on

facial wrinkles, acne scars and other skin problems of Asian patients. J Dermatol. 2007;34:17–24.

50. Hetter G. An examination of the phenol-Croton oil peel: Part IV. Face peel results with different

concentrations of phenol and Croton oil. Plast Reconstr Surg. 2000;105:1061–83; discussion 1084-7.

51. Rullan PP, Lemon J, Rullan J. The 2-day light phenol chemabrasion for deep wrinkles and acne scars:

A presentation of face and neck peels. Am J Cosm Surg. 2004;21:15–26.

52. Stone PA. The use of modied phenol for chemical face peeling. Clin Plast Surg. 1998;25:21–44.

53. Nelson BR, Fader DJ, Gillard M, Majmudar G, Johnson TM. Pilot histologic and ultrastructural study

of the effects of medium-depth chemical facial peels on dermal collagen in patients with actinically

damaged skin. J Am Acad Dermatol. 1995;32:472–8.

54. Yug A, Lane JE, Howard MS, Kent DE. Histologic study of depressed acne scars treated with serial

high-concentration (95%) trichloroacetic acid. Dermatol Surg. 2006;32(8):985–90.

55. Monheit GD. The Jessner’s-trichloroacetic acid peel. An enhanced medium-depth chemical peel.

Dermatol Clin. 1995;13:277–83.

56. Brody HJ, Hailey CW. Medium-depth chemical peeling of the skin: A variation of supercial

chemosurgery. J Dermatol Surg Oncol. 1986;12:1268–75.

57. Coleman WP 3rd, Futrell JM. The glycolic acid trichloroacetic acid peel. J Dermatol Surg Oncol.

1994;20:76–80.

58. Stagnone JJ. Chemabrasion, a combined technique of chemical peeling and dermabrasion. J Dermatol

Surg Oncol. 1977;3:217–9.

59. Carvalho Costa IM, Damasceno PS, Carvalho Costa M, Pati Gomez KG. Review in peeling complications.

J Cosmet Dermatol. 2017;16:319–26.

60. Holm C, Muhlbauer W. Toxic shock syndrome in plastic surgery patients: Case report and review of the

literature. Aesthetic Plast Surg. 1998;22:180–4.

61. Stagnone GJ, Orgel MB, Stagnone JJ. Cardiovascular effects of topical 50% trichloroacetic acid and

Baker’s phenol solution. J Dermatol Surg Oncol. 1987;13:999–1002.

62. Landau M. Cardiac complications in deep chemical peels. Dermatol Surg. 2007;33:190–3.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét