PEEL SÂU BẰNG DUNG DỊCH PHENOL (PHẦN 1)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Tóm tắt
Lão hóa da là một quá trình khiến nhiều người phải lo lắng và tìm kiếm sự giúp đỡ từ y tế để làm giảm các dấu hiệu lão hóa. Có rất nhiều kĩ thuật chống lão hóa hiện nay và đang ngày càng phát triển nhanh, tuy nhiên không có nhiều phương pháp có thể tạo ra được sự khác biệt đáng kể như peel phenol. Chỉ định của peel phenol là lão hóa da ánh sáng nặng, tuy nhiên bất lợi của phương pháp này là đau trong và sau thủ thuật, thời gian phục hồi dài và nguy cơ ngộ độc tim. Do đó, lựa chọn bệnh nhân là rất quan trọng và khi thực hiện peel nên có sự hỗ trợ của dụng cụ trợ giúp và nhân viên, máy theo dõi tim, và gây tê.
Nội dung
- Giới thiệu
- Lịch sử
- Peel phenol-dầu Croton: độc tính
- Phenol Dầu Croton
- Phương pháp peel sâu Phương pháp gây bít tắt Peel theo công thức Baker
- Chất trung hòa phenol
- Chỉ định
- Chống chỉ định
- Chuẩn bị trước peel
- Kĩ thuật (peel phenol toàn bộ mặt) Chăm sóc và an toàn chung Chăm sóc tại chỗ và và xác định ranh giới peel
- An thần và giảm đau Bôi hóa chất
- Tiến triển
- Phối hợp peel sâu và phẫu thuật thẩm mỹ
- Biến chứng
- Rối loạn sắc tố
- Đỏ da kéo dài và đỏ bừng mặt Sẹo
- Nhiễm trùng
- Biến chứng hệ thống Những biến chứng khác
- Mô học
- Ghi nhớ
- Tham khảo
Giới thiệu
Peel hóa chất là dùng hóa chất peel để bôi lên da nhằm gây tổn thương các lớp của da một cách có kiểm soát nhằm điều trị bệnh hoặc vì mục đích thẩm mỹ. Đầu tiên, lớp da mới được hình thành có nguồn gốc từ phần sâu hơn của phần phụ da. Phải hết sức lưu ý không được gây tổn thương những phần phụ này trong quá trình peel; do đó, giới hạn an toàn tối đa của hóa chất peel là đến lớp bì lưới giữa. Cuối cùng, trong quá trình lành vết thương, quá trình sản xuất và tái tạo xảy ra.Công thức dựa vào phenol đã được sử dụng phổ biến để peel sâu, có thể peel đến lớp bì lưới giữa. Trong y văn những năm gần đây, peel sâu bằng phenol thường được gọi là peel “phe- nol-dầu croton” hoặc “peel dầu cro- ton”, bởi vì dầu croton có vai trò làm tăng độ sâu peel.
Peel phenol vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong peel hóa học, vì không có chất nào có thể trẻ hóa da tốt như phenol. Nó còn được xem là tiêu chuẩn để so sánh cho các phương pháp trẻ hóa da khác như laser và dermabrasion.
Ngoài khả năng điều trị nếp nhăn, nó còn có thể tạo ra “hiệu ứng kéo căng” nhờ khả năng làm co rút mạnh da, từ đó có thể tạo ra làn da tự nhiên hơn. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, không thể so sánh được tác dụng và chỉ định của nó so với phẫu thuật kéo căng da.
Peel phenol có thể giúp giải quyết rối loạn sắc tố và những thay đổi da do ánh sáng kèm với lợi ích thêm vào là giảm sự xuất hiện của các tổn thương tiền ung thư và ung thư do ánh sáng (hình 1 và 2).
![]() |
| Hình 2: bệnh nhân 61 tuổi (a) trước peel (b) sau peel Baker, vùng quanh mắt sử dụng phương pháp gây bít tắc. |
Phenol cần phải được bôi một cách cẩn thận, tuân thủ kỉ thuật bôi và chống chỉ định vì độc tính của phe- nol. Bệnh nhân nên được theo dõi để phòng trường hợp cần hỗ trợ khẩn cấp khi có độc tính hệ thống.
Vì khả năng trẻ hóa da nổi bật của phương pháp này, hiện có rất nhiều công thức; trong chương này, chúng tôi tập trung chủ yếu vào peel sâu bằng công thức Baker (bảng 1).
Lịch sử
Peel phenol và công thức bí mật của nó được nắm giữ bởi các bác sĩ thẩm mỹ cho đến đầu thập niên 1960. Việc sử dụng công thức peel với phe- nol và dầu croton ở Hollywood kể từ đầu thập niên 1920 đã được những chuyên da về peel báo cáo. Họ đã trở nên nổi tiếng vì đã giúp những người nổi tiếng giữ được sự nghiệp của họ, và họ cho rằng kĩ thuật này là “suối nguồn của sự trẻ trung” (Hetter 2000a). Một bài báo y học được công bố năm 1917 bởi Montgomery, đã mô tả cách mà một bác sĩ thẩm mỹ đã sử dụng phương pháp peel bằng cách gây bít tắc phenol ở New York (Hetter 2000a).Trải qua thời gian, các bác sĩ muốn thay đổi trật tự thông tin trong những công thức này, và năm 1927, một bác sĩ từ Los Angeles- H. O. Bames- đã mô tả chi tiết kĩ thuật peel phenol bít tắt. Ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bôi phenol theo vùng da và khoảng cách thời gian giữa các vùng trong quá trình làm thủ thuật, đây là những vấn đề vốn không được thực hiện bởi hầu hết các bác sĩ thẩm mỹ. Ông còn báo cáo rằng họ đã không làm điều đó trên vùng cổ (Bames 1927). Năm 1959, Adolph Brown, từ Los Angeles, đã phát minh ra công thức mới gồm phenol và cro- ton oil (Hetter 2000b). Năm 1960, ông đã công bố trên tờ British Journal of Plastic Surgery một nghiên cứu chi tiết đầu tiên về công thức phenol, mô học, và độc tính sau nghiên cứu của Bames (Brown 1960). Trong bài báo đó, ông đã phác thảo một vài niềm tin sai lầm đã tồn tại trong rất nhiều năm như (1) phenol là một thành phần có hoạt tính, (2) phenol xâm nhập tốt hơn ở nồng độ thấp hơn, và (3) việc thêm vào một chất có tác dụng làm giảm căng bề mặt sẽ làm tăng khả năng thấm của phe- nol (Hetter 2000b, c). Một chất ví dụ làm giảm căng bề mặt là Septisol (liq- uid soap). Mãi đến năm 1959, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Clyde Litton đã có được công thức từ một bác sĩ thẩm mỹ và báo cáo trong hội nghị phẫu thuật thẩm mỹ thường niên tại New Orleans vào năm 1961, 2 năm sau khi theo dõi 50 bệnh nhân điều trị (Hetter 2000a, b). Nhưng tân kỉ nguyên của peel phenol bắt đầu khi Thomas Bak- er thu được dữ liệu từ các công thức được nắm giữ bởi 3 bác sĩ thẩm mỹ và phát triển một dung dịch điều chỉnh của phenol với dầu coton, Septisol, và nước (bảng 1) và công bố nó vào năm 1962 tại tờ Plastic and Reconstructiv Surgery (Baker 1962).
Mặc dù công thức này rất là mạnh, nó đã được sử dụng và nghiên cứu rộng rãi nhất trong những năm này, có thể bởi vì nó đơn giản và là công thức đầu tiên được công bố đầy đủ trên tờ tạp chí được sử dụng rộng rãi bởi các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ.
Sau đó, trong số rất nhiều bài báo đó, những bài báo của Stegman năm 1980 và 1982 (Stegman 1980, 1982) đã mang lại những hiểu biết khoa học về peel. Ông đã kết luận rằng một vài yếu tố có thể làm tăng khả năng tổn thương da của dung dịch Baker: 1) tăng nồng độ phenol; 2) tăng nhiều lớp nhủ tương của Baker; 3) sự gây bít tắc sẽ làm tăng khả năng thấm của phenol. Ngoài ra, khi loại bỏ dầu croton, thì công thức Baker gây ít tổn thương hơn. Vào năm 1996, những nghiên cứu mô học được tiến hành bởi Moy và cộng sự (1996) đã cũng cố những kết luận của Stegman, rằng phản ứng của peel dung dịch Baker sâu hơn do sự phối hợp của nhiều thành phần.
Một loạt các bải báo của Hetter năm 2000 (2000 a, b, c, d) đã báo cáo vai trò liên quan của dầu croton trong peel phenol. Thay đổi nồng độ của các thành phần sẽ làm thay đổi độ sâu của peel. Nồng độ phenol cũng đã được nghiên cứu. Nồng độ phenol càng cao thì phản ứng của mô càng mạnh, điều này đã làm lung lay niềm tin của Brown. Vai trò của chất surfactant (xà phòng hoặc chất tẩy) là làm giảm độ căng bề mặt, nhủ tương hóa dễ dàng dầu và hỗn hợp phenol/nước hơn, cho phép bôi nhiều lớp hơn.
Peel Phenol-dầu Croton: Độc tính Phenol
Phenol – hoặc carbolic acid- gồm có một vòng benzene và một nhóm hydroxyl, có nguồn gốc từ dầu hắc hoặc được tổng hợp từ monochlo- robenzene. Phenol là một chất kiềm khuẩn nếu ở nồng độ 0.2%, là chất diệt khuẩn nếu ở nồng độ trên 1%, và có hiệu quả gây tê nếu ở nồng độ 5%.
Phenol được hấp thu nhanh qua da; phenol 70% nếu được bôi lên da sẽ được hấp thu trong 30 phút (Wexler 1984). Phenol sau khi được hấp thụ sẽ được đào thải qua 3 quá trình: bài tiết, oxy hóa, và kết hợp. Sau khi hấp thụ, 25% sẽ được chuyển hóa thành carbon dioxide và nước. 70 % còn lại có thể được bài tiết nguyên vẹn qua thận hoặc kết hợp với glycuronic hoặc sulfuric acid. Một lượng nhỏ phe- nol cũng có thể được oxy hóa thành hydroquinone và pyrocatechin. Quá trình oxy hóa và kết hợp đều xảy ra tại gan (Litton 1962).
Những dấu hiệu ngộ độc hệ thống bao gồm buồn nôn, nôn, mất cảm giác, đau đầu và bị ám ảnh. Dấu hiệu kích thích thần kinh trung ương có thể bắt đầu với rung, tăng phản xạ, và tăng huyết áp sau đó sẽ xảy ra hiện tượng ức chế thần kinh trung ương. Khi ngộ độc phenol qua đường tiêu hóa sẽ gây ức chế đột ngột thần kinh trung ương, ngừng hô hấp tuần hoàn, và suy gan thận.
Nồng dộ phenol trong máu thu được 1h sau khi bôi 3ml phenol 5% lên toàn bộ da mặt là 0.68 mg/dl. Việc bôi qua da an toàn hơn so với uống phenol, vì với lượng phenol trên nồng độ trong máu sẽ đạt 23mg/dl sau 15 phút (Litton 1962). Thật không may mắn vì không ước tính được liều gây chết vì nồng độ phenol rất khác nhau trong máu sau khi hấp thụ.
Trong peel da, khả năng hấp thụ phenol và độc tính phụ thuộc vào tổng diện tích da được bôi trong một lần nhiều hơn so với nồng độ của phe- nol. Ngộ độc hệ thống nếu xảy ra sẽ bắt đầu trong một vài phút sau khi bôi, tuy nhiên không có những vấn đề về gan thận và hệ thần kinh trung ương được báo cáo khi peel phenol được làm đúng cách.
Tuy nhiên, rối loạn nhịp tim lại có liên quan với việc bôi phenol nhanh trên toàn bộ bề mặt da mặt (Truppman 1979) vì phenol gây độc tính trực tiếp lên cơ tim (Stagnone 1987). Một lí do khác giải thích cho độc tính lên tim là việc tiết ra adrenalin do đau trong quá trình peel, adrenalin sẽ truyền từ dây thần kinh sọ số V xuống dây thần kinh phế vị hoặc từ võ não trực tiếp xuống nút xoang (Stagnone và Stagnone 1982). Khi bôi phenol theo từng đơn vị thẩm mỹ kèm một khoảng nghỉ sau đó có thể giúp giảm nguy cơ độc tính lên tim.
Lợi tiểu giúp tăng đào thải phenol qua nước tiểu và giảm rối loạn nhịp. Kiềm hóa nước tiểu cũng có thể có ích vì làm tăng bài tiết qua ống thận (Matarasso 1994).
Nếu rối loạn nhịp trên thất nhẹ xảy ra, nên ngừng bôi cho đến khi nhịp xoang trở về bình thường. Khuyến cáo nên đợi 15 phút sau khi nhịp tim trở về bình thường rồi mới bôi tiếp. Nếu rối loạn nhịp trên thất nặng hoặc rối loạn nhịp thất xảy ra, nên thay thế phenol bằng một hóa chất peel khác (Brody 1997a).
Một thông tin hữu ích là hiệu quả của một hóa chất peel có thể được điều chỉnh khi phối hợp với một chất peel khác mà chất này có thể điều chỉnh được độ mạnh và độc tính của nó.
Có thể chế ngự phenol, hoặc tri- chloroacetic acid bằng cách phối hợp chúng với chất phụ gia, chất nhủ tương, saponin hoặc surfactant. Những chất này sẽ làm tăng hiệu quả và độ an toàn của các hóa chất peel. Ví dụ, chúng ta biết rằng phenol trọng lượng phân tử thấp (94,11) và tính phân cực của nó cho phép chất này đi qua tế bào và màng nội mạch nhanh chóng và nó được hấp thu nhiều hơn trong dung môi nước hơn là trong dung môi dầu; trong các công thức điều chỉnh người ta thấy các chất như glycerin, sesame, và/hoặc dầu olive khi hòa tan phenol vào sẽ giảm sự hấp thu hệ thống của phenol (Deprez 1998).
Dầu Croton
Dầu croton được chiết xuất từ hạt của cây Croton tiglium, một loài cây bụi bản địa sống ở Ấn độ và đảo Tích Lan. Chất này gồm 7% glycer- in, 37% oleic acid, 19% linoleic acid, 7.5% myristic acid, 1.5% arachidic acid, và ít hơn 1% stearic, palmitic, lauric, valeric, tiglic, butyric, acetic, và formic acid. Dầu croton đã được sử dụng như là thuốc xổ ở Ấn Độ và được sử dụng ở Châu Âu năm 1630 cũng với mục đích đó, và nó thậm chí có thể gây chết người. Trên da, loại dầu này có thể gây rộp mụn nước, hoại tử và bỏng nặng.
Tài liệu tham khảo
Abeles G, Warmuth IP, Sequei- ra M, Swensen RD, Bisaccia E, Scar- borough DA. The use of conscious sedation for outpatient dermatologic surgical proce- dures. Dermatol Surg. 2000;26(2):121–6.
American Society of Anesthe- siologists Task Force on Sedation and Analgesia by Non-Anesthesiologists. Practice guidelines for sedation and analgesia by non-anesthesiologists. Anesthesiology. 2002;96(4):1004–17.
Asken S. Unoccluded Bak- er-Gordon phenol peels: review and update. J Dermatol Surg Oncol. 1989; 15(9):998–1008.
Baker TJ. Chemical face peel- ing and rhytidectomy. Plast Reconstr Surg. 1962;29:199–207.
Bames HO. Truth and fallacies of face peeling and face lifting. Med J Rec. 1927;126:86–7.
Bassanezi BSB, Oliveira Filho AG. Postoperative analge- sia. Rev Col Bras Circ. 2006;33(2):116–22.
Beeson WH. The importance of cardiac monitoring in superficial and deep chemical peeling. J Dermatol Surg Oncol. 1987;13(9):949–50.
Brody HJ. Complications of chemical peeling. J Dermatol Surg On- col. 1989;15:1010–9.
Brody HJ. Complications of chemical peels. In: Brody HJ, edi- tor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997a. p. 161–93.
Brody HJ. Deep peeling. In: Brody HJ, editor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997b.
p. 138–42.
Brown AM, Kaplan LM, Brown ME. Phenol induced histological skin changes: hazards, technique and uses. Br J Plast Surg. 1960;13:158.
Deprez. Qui (n0) a (pas) peur Du phénol? J Méd Esth Chir Dermatol. 1998;25:21–8.
Di Santis EP, Elias BLF, Barros RVS, Mandelbaum SH.
Peeling profundo de fenol: como controlar a dor durante a apli- cação e até 12 horas após? Surg Cos- met Dermatol. 2014;6(1):11–5.
Fulton JE, Porumb S. Chemical peels: their place within the range of resurfacing techniques. Am J Clin Der- matol. 2004;5(3):179–87.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part
II. The lay peelers and their croton oil formulas. Plast Reconstr Surg. 2000a;105(1):240–8.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part III. The plastic surgeon’s role. Plast Re- constr Surg. 2000b;105(2):752–63. Hetter GP. An examination of the phe- nol-croton oil peel, part I. Dissect- ing the formula. Plast Reconstr Surg. 2000c;105(1):227–39.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part IV. Face peel results with different concentra- tion of the phenol and croton oil. Plast Reconstr Surg. 2000d;105:1061–83.
Kligman AM, Baker TJ, Gordon HL. Long-term histologic follow-up of phenol face peels. Plast Reconstr Surg. 1985;75:652–9.
Kocum AI, Sener M, Caliskan E, Bozdogan N, Micozkadioglu D, Yil- maz I, et al. Intravenous paracet- amol and dipyrone for postoperative an- algesia after day-case tonsillectomy in children: a prospective, ran- dom- ized, double blind, placebo controlled study. Braz J Otorhinolaryngol. 2013;79(1):89–94.
Litton C. Chemical face lifting. Plast Reconstr Surg. 1962;29:371–80.
Maloney BP, Millman B, Mon- heit G, McCollough EG. The etiology of prolonged erythema after chemical peel. Dermatol Surg. 1998;24:337–41.
Matarasso SL. Phenol chemi- cal peels. In: Wheeland RG, editor. Cu- taneous surgery. 1st ed. Philadelphia:
W.B. Saunders; 1994. p. 491–508.
Monheit GD, Chastain MA. Chemical and mechanical skin resur- facing. In: Bolognia JL, Jorizzo JL, Ra- pini RP, editors. Dermatology. Spain: Elsevier; 2008. p. 2321–7. Moy LS, Peace S, Moy RL. Comparison of the effect of various chemical peeling agents in a mini-pig model. Dermatol Surg. 1996;22:429–32.
Odo MEY, Chichierchio AL. Peelings quimicos. In: dos Santos H, editor. Práticas em Cosmiatria e Me- dicina Estética. 1st ed. São Paulo: Tec- nopress Editora e Publicidade Ltda; 1998. p. 63–87.
Otley CC, Nguyen TH. Safe and effective conscious seda- tion admin- istered by dermatologic surgeons. Arch Dermatol. 2000;136(11):1333–new treatment strategies in the pro- phylaxis of patients undergoing pro- cedures of the perioral area. Plast Re- constr Surg. 1996;98:427–33.
Price NM. EKG changes in re- lationship to the chemical peel. J Der- matol Surg Oncol. 1990;16:37–42. Stagnone JJ, Stagnone GJ. A second look at chemabrasion.
JDermatolSurgOncol. 1982;8:701–5.
Stagnone GJ, Orgeel MB, Stag- none JJ. Cardiovascular effects of topi- cal 50 % trichloroacetic acid and Bak- er’s phenol solution. J Dermatol Surg Oncol. 1987; 13:999–1002.
Stegman SJ. A study of derm- abrasion and chemical peels in an an- imal model. J Dermatol Surg Oncol. 1980; 6(6):490–7.
Stegman SJ. A comparative histologic study of the effects of there peeling agents and dermabrasion on normal and sun damaged skin. Aes- thet Plast Surg. 1982;6:123. Stone PA. The use of modified phenol for chemi- cal. Clin Plast Surg. 1998;25:21–44.
Stuzin JM. Chemical peel. A change in the routine. Ann Plast Surg. 1989;23:166–9.
Stuzin JM. Phenol peeling and the history of phenol. Clin Plast Surg. 1998;25(1):1–19.
Truppman ES. Major electro- cardiographic changes during chem- ical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1979; 63(1):44–8.
Perkins SW, Sklarew EC. Pre- vention of facial herpetic infections af- ter chemical peel and dermabrasion






0 nhận xét:
Đăng nhận xét