LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

 PEEL SÂU BẰNG DUNG DỊCH PHENOL (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

PHƯƠNG PHÁP PEEL SÂU

Phương pháp gây bít tắc Peel sâu có thể dùng phương pháp gây bít tắc hoặc không (hình 3,4 và 5). Việc gây bít tắc có cơ chế như hàng rào ngăn phenol bay hơi và làm mềm da, nhờ vậy giúp hấp thụ nhiều hơn và phenol thấm được sâu hơn. Gây bít tắt có thể được thực hiện bằng cách dùng một cuộn băng dán không thấm nước, rộng 1-1.5cm, băng chồng lên nhau 2 đến 3 lớp, và băng trực tiếp lên da trong 48h (hình 6 và 7). Tuy nhiên bệnh nhân sẽ cảm thấy hơi khó chịu, và nhiều người thích gây bít tắt bằng petrolatum (Stuzin 1989) hoặc silicone gel (bôi ngay lên vùng vừa được điều trị bằng phenol) hơn. Nhưng cần phải hết sức lưu ý là phe- nol có thể bị petrolatum hoặc silicone gel đưa vào mắt thông qua quá trình mao dẫn ở các nếp nhăn. Do đó trong thực hành lâm sàng, chúng tôi không khuyến cáo dùng petrolatum hoặc sil- icone gần mí mắt trong hoặc sau thủ thuật.

Trong rất nhiều kĩ thuật gây bít tắt sau peel, bột thymol iodide hoặc bột subgallate có thể được sử dụng sau khi lột lớp băng dính. Những chất này sẽ hình thành một lớp mặt nạ và giữ trong 6-9 ngày (hình 8,9 và 10). Lớp mặt nạ mới này sẽ giúp da ít di động hơn, làm nhanh lành vết thương và giúp đạt kết quả tốt hơn. Với lớp mặt nạ thứ 2 này, chăm sóc vết thương trở nên không cần thiết, và da sẽ tái tạo thượng bì hoàn toàn sau khi loại bỏ lớp mặt nạ này. Nên hỗ trợ bệnh nhân, vì họ có thể cảm thấy bị căng thẳng khi dùng mặt nạ này trong vài ngày.
Hình 3: (a) bệnh nhân 56 tuổi, trước khi điều trị peel phenol với công thức Baker và không dùng phương pháp gây bít tắt. (b) phù và đỏ da ngay sau khi peel

Hình 4: cùng một bệnh nhân ở hình 3. (a) 24h sau peel. Da mặt bì phù nặng và tối sạm lại. (b) 48h sau khi peel, trước khi rửa mặt. mặt phù, đóng fibrin và vảy đang bong ra.
(c) 48h sau peel, sau khi đã rửa mặt và loại bỏ chất tiết, fibrin và da bong.
Hình 5: cùng một bệnh nhân với hình 3 và 4. (a) 4 ngày sau peel, bệnh nhân dang dùng petrolatum, da mặt không còn lớp thượng bì hoại tử, da đỏ lan rộng và một vài vùng còn fibrin. (b) 12 ngày sau peel, tái tạo thượng bì da, nhưng da vẫn còn đỏ. (c) 2 tháng sau peel, độ mềm mại của da và nếp nhăn được cải thiện đáng kể.

Hình 6: bệnh nhân 67 tuổi. (a) trước khi peel phenol với công thức Baker theo phương pháp gây bít tắt. (b) mặt nạ băng dính ngay sau khi bôi phenol. Trong hình ta thấy bệnh nhân phù 2 mí mắt và có sử dụng lưới ép (không thường được sử dụng). (c) 24h sau peel, vùng quanh mí mắt phù nhiều hơn.
Hình 7: cùng một bệnh nhân ở hình 6. (a) 48 h sau peel, trước khi lột băng dính. Vùng mí mắt giảm phù (b) 48h sau peel. Băng dính được lột bỏ. Có thể thấy một phần lớp thượng bì dính vào băng dán, da bị sạm, tiết dịnh, fibrin và hoại tử thượng bì (c) 3 ngày sau khi peel, mặt đỏ, phù đóng vảy và fibrin.
Hình 8: cùng một bệnh nhân với hình 6, 7. (a) 6 ngày sau peel, lớp thượng bì được tái tạo nhiều hơn, da đỏ, khô và có vảy. (b) 10 ngày sau peel, tái tạo thượng bì, da đỏ, phù và khô. (c) 15 ngày sau peel, có thể để ý thấy phenol không được bôi đồng điều ở mí mắt bên trái và bờ môi.

Hình 9: 4 ngày sau khi làm mặt nạ bột bismuth subgallate

Peel theo công thức Baker

Công thức cũ của Baker được công bố năm 1962, vẫn đang được cập nhật và là công thức được sử dụng phổ biến nhất (bảng 1).

Công thức Baker- Gordon được tạo ra bằng cách hút 3 ml phenol vào ống tiêm, sau đó hút thêm 2 ml nước, 8 giọt xà phòng lỏng, và cuối cùng là thêm vào 3 giọt croton oil. Sau khi hoàn tất nồng độ của phenol là 50%. Hỗn hợp này ở thể nhũ tương không trộn lẫn nhau, và nên khuấy đều mỗi lần bôi (hình 11, 12, và 13). Hetter (2000c) đã chứng minh rằng peel phe- nol ở nồng độ tăng dần từ 18%, 35%, và 50% với xà phòng Setisol mà không có dầu croton sẽ làm tăng mức độ phù, đỏ da nhưng không gây tổn thương lớp bì nghiêm trọng, trong khi peel phenol 88% không kèm Septosol sẽ gây tổn thương lớp bì. Tuy nhiên, việc thêm dầu croton vào phenol 50% có thể làm tăng đáng kể độ sâu peel ở lớp bì.

Hình 10: 7 ngày sau khi bôi mặt nạ bột bismuth subgallate, loại bỏ lớp bột bằng một lượng nhỏ petrolatum

Hetter cũng đã trình bày trong một cuộc nói chuyện cá nhân rằng phenol 33% có thể tạo ra được độ sâu trung bình- nông và độ sâu trung bình –sâu, hoặc sâu với nồng độ khác nhau của dầu croton lần lượt là 0.35%, 0.7% hoặc 1.1% (Stone 1998). Het- ter đã phối hợp phenol ở nồng độ 16- 50% với dầu croton ở khoảng nồng độ 0.25% đến 2.78% và sử dụng thời gian hồi phục để đánh giá độ sâu và đã đưa ra kết luận rằng độ sâu peel thu được tỉ lệ thuận với nồng độ của cả 2 chất (Hetter 2000d). Nồng độ của dầu cro- ton trong công thức Baker là 2.08% và dường như đóng vài trò quan trọng trong hình thành độ sâu khi peel.

Hình 11: tạo dung dịch peel theo công thức Baker. Dung dịch nhủ tương không hòa tan vào nhau được.

Hình 12: dầu croton bằng ống tiêm, 1 giọt tương đương 0,04ml. Lưu ý là dầu croton được đo bằng
ống nhỏ giọt có thể tích khác nhau tùy thuộc kích thư

Hình 13: Dung dịch nhũ tương đồng nhất sau khi khuấy điều.

Những nghiên cứu khác đã xác thực trên phương diện mô học những tuyên bố của Hetter trước đó về vai trò của nồng độ phenol và dầu croton (Moy 1996; Stone 1998). Tuy nhiên, Cũng có những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến độ sâu peel như phương pháp gây bít tắc, đè mạnh khi bôi, chà sát, số lần bôi trên một vùng diện tích, thời gian tiếp xúc với chất peel, thể tích bôi, dung môi và phân loại da của bệnh nhân. Khi sử dụng công thức Baker (công thức này có nồng độ tương đối nhẹ), tất cả những yếu tố trên cần phải được cân nhắc và không cần phải luôn gây bít tắc mới có thể đạt được kết quả như mong muốn.

Tồn tại rất nhiều công thức được tạo ra trước và sau công thức Baker; tuy nhiên một vài trong số đó vẫn được giữ bí mật về thành phần và hiện nay một vài sản phẩm sử dụng các công thức đó đã được bán trên thị
trường.

CHẤT TRUNG HÒA PHENOL

Phenol tan trong dầu và có thể nhanh chóng bị tẩy khỏi da mặt với glycerin, propylene glycol, dầu thực vật hoặc alcohol 50%.
Tuy nhiên, khi bôi phenol nồng độ cao sẽ gây biến tính và đông vón keratin nhanh và mạnh (tạo thành frost), đây là quá trình không thuận nghịch.

CHỈ ĐỊNH

Peel phenol được chỉ định trong trẻ hóa da với da bị tổn thương nặng, mỏng và khảm nếp nhăn nhằm điều trị các rối loạn sắc tố, tổn thương do ánh sáng, và tổn thương da do bức xạ nếu vùng da đó có đủ phần phụ, những phần phụ này đóng vai trò rất quan trọng trong tái tạo thượng bì (hình 14, 15 và 16).

Hình 14: trước khi peel phenol, nếp nhăn thành dạng khảm. (a) chụp từ phía trước.

Hình 15: cùng một bệnh nhân với hình 14, 4 tháng sau peel phenol. 

Hình 16: (a) trước khi peel phenol, da bị lão hóa do ánh sáng, thay đổi sắc tố và sệ. (b)  

Thông thường, peel phenol được chỉ định cho những bệnh nhân có phân loại da típ I đến III theo phân loại của fitzpatrick vì peel phenol (cũng như các loại peel sâu khác) có thể gây mất sắc tố. Ngoài ra thì da sáng cũng sẽ ít nguy cơ thấy rõ sự khác biệt giữa vùng được điều trị và vùng không được điều trị. Tuy nhiên, khi peel từng vùng ở bệnh nhân có phân loại da típ I và II có thể tạo ra sự tương phản giữa vùng da dày tổn thương ánh sáng (vàng, dày, nhiều elastin) với vùng da mỏng hơn, được điều trị và không có các mảng tăng sắc tố. Khi xảy ra đều này, thì lựa chọn duy nhất là điều trị toàn bộ mặt (Stuzin 1998). Một vài tác giả cũng cho rằng, bệnh nhân có phân loại da típ I và II da thường ít melamin hơn, khi bị giảm sắc tố thì dù
bệnh nhân được peel đồng bộ toàn mặt vẫn sẽ gây chú ý nhiều hơn so với típ III và IV. Đối với bệnh nhân thuộc típ III và IV thường sẽ bị tăng sắc tố hơn, tuy nhiên tình trạng tăng sắc tố có thể biến mất. Không khuyến cáo peel phe- nol ở bệnh nhân có phân loại da típ V và VI, do có nguy cơ cao bị tăng sắc tố sau viêm, mất sắc tố không đều giống bạch biến và sẹo phì đại.

Tài liệu tham khảo
Abeles G, Warmuth IP, Sequei- ra M, Swensen RD, Bisaccia E, Scar- borough DA. The use of conscious sedation for outpatient dermatologic surgical proce- dures. Dermatol Surg. 2000;26(2):121–6.
American Society of Anesthe- siologists Task Force on Sedation and Analgesia by Non-Anesthesiologists. Practice guidelines for sedation and analgesia by non-anesthesiologists. Anesthesiology. 2002;96(4):1004–17.
Asken S. Unoccluded Bak- er-Gordon phenol peels: review and update. J Dermatol Surg Oncol. 1989; 15(9):998–1008.
Baker TJ. Chemical face peel- ing and rhytidectomy. Plast Reconstr Surg. 1962;29:199–207.
Bames HO. Truth and fallacies of face peeling and face lifting. Med J Rec. 1927;126:86–7.
Bassanezi BSB, Oliveira Filho AG. Postoperative analge- sia. Rev Col Bras Circ. 2006;33(2):116–22.
Beeson WH. The importance of cardiac monitoring in superficial and deep chemical peeling. J Dermatol Surg Oncol. 1987;13(9):949–50.
Brody HJ. Complications of chemical peeling. J Dermatol Surg On- col. 1989;15:1010–9.
Brody HJ. Complications of chemical peels. In: Brody HJ, edi- tor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997a. p. 161–93.
Brody HJ. Deep peeling. In: Brody HJ, editor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997b.
p. 138–42.
Brown AM, Kaplan LM, Brown ME. Phenol induced histological skin changes: hazards, technique and uses. Br J Plast Surg. 1960;13:158.
Deprez. Qui (n0) a (pas) peur Du phénol? J Méd Esth Chir Dermatol. 1998;25:21–8.
Di Santis EP, Elias BLF, Barros RVS, Mandelbaum SH.
Peeling profundo de fenol: como controlar a dor durante a apli- cação e até 12 horas após? Surg Cos- met Dermatol. 2014;6(1):11–5.
Fulton JE, Porumb S. Chemical peels: their place within the range of resurfacing techniques. Am J Clin Der- matol. 2004;5(3):179–87.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part
II. The lay peelers and their croton oil formulas. Plast Reconstr Surg. 2000a;105(1):240–8.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part III. The plastic surgeon’s role. Plast Re- constr Surg. 2000b;105(2):752–63. Hetter GP. An examination of the phe- nol-croton oil peel, part I. Dissect- ing the formula. Plast Reconstr Surg. 2000c;105(1):227–39.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part IV. Face peel results with different concentra- tion of the phenol and croton oil. Plast Reconstr Surg. 2000d;105:1061–83.
Kligman AM, Baker TJ, Gordon HL. Long-term histologic follow-up of phenol face peels. Plast Reconstr Surg. 1985;75:652–9.
Kocum AI, Sener M, Caliskan E, Bozdogan N, Micozkadioglu D, Yil- maz I, et al. Intravenous paracet- amol and dipyrone for postoperative an- algesia after day-case tonsillectomy in children: a prospective, ran- dom- ized, double blind, placebo controlled study. Braz J Otorhinolaryngol. 2013;79(1):89–94.
Litton C. Chemical face lifting. Plast Reconstr Surg. 1962;29:371–80.
Maloney BP, Millman B, Mon- heit G, McCollough EG. The etiology of prolonged erythema after chemical peel. Dermatol Surg. 1998;24:337–41.
Matarasso SL. Phenol chemi- cal peels. In: Wheeland RG, editor. Cu- taneous surgery. 1st ed. Philadelphia:
W.B. Saunders; 1994. p. 491–508.
Monheit GD, Chastain MA. Chemical and mechanical skin resur- facing. In: Bolognia JL, Jorizzo JL, Ra- pini RP, editors. Dermatology. Spain: Elsevier; 2008. p. 2321–7. Moy LS, Peace S, Moy RL. Comparison of the effect of various chemical peeling agents in a mini-pig model. Dermatol Surg. 1996;22:429–32.
Odo MEY, Chichierchio AL. Peelings quimicos. In: dos Santos H, editor. Práticas em Cosmiatria e Me- dicina Estética. 1st ed. São Paulo: Tec- nopress Editora e Publicidade Ltda; 1998. p. 63–87.
Otley CC, Nguyen TH. Safe and effective conscious seda- tion admin- istered by dermatologic surgeons. Arch Dermatol. 2000;136(11):1333–new treatment strategies in the pro- phylaxis of patients undergoing pro- cedures of the perioral area. Plast Re- constr Surg. 1996;98:427–33.
Price NM. EKG changes in re- lationship to the chemical peel. J Der- matol Surg Oncol. 1990;16:37–42. Stagnone JJ, Stagnone GJ. A second look at chemabrasion.JDermatolSurgOncol. 1982;8:701–5.
Stagnone GJ, Orgeel MB, Stag- none JJ. Cardiovascular effects of topi- cal 50 % trichloroacetic acid and Bak- er’s phenol solution. J Dermatol Surg Oncol. 1987; 13:999–1002.
Stegman SJ. A study of derm- abrasion and chemical peels in an an- imal model. J Dermatol Surg Oncol. 1980; 6(6):490–7.
Stegman SJ. A comparative histologic study of the effects of there peeling agents and dermabrasion on normal and sun damaged skin. Aes- thet Plast Surg. 1982;6:123. Stone PA. The use of modified phenol for chemi- cal. Clin Plast Surg. 1998;25:21–44.
Stuzin JM. Chemical peel. A change in the routine. Ann Plast Surg. 1989;23:166–9.
Stuzin JM. Phenol peeling and the history of phenol. Clin Plast Surg. 1998;25(1):1–19.
Truppman ES. Major electro- cardiographic changes during chem- ical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1979; 63(1):44–8.
Perkins SW, Sklarew EC. Pre- vention of facial herpetic infections af- ter chemical peel and dermabrasion

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét