PEEL SÂU BẰNG DUNG DỊCH PHENOL (PHẦN 4)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
TIẾN TRIỂN
Cảm giác đau rất sâu và có thể kéo dài từ 8-14h. Trong thời gian này, bệnh nhân phải sử dụng acetamino- phen liều 500-1000mg (dùng mỗi 4-6 tiếng một lần), xen kẻ với ketopro- fen 50mg mỗi 8h. Phối hợp thêm với tramadol liều 50 mg mỗi 4-6h (dùng trong khoảng thời gian giữa các liều, nhớ lại liều truyền trong thủ thuật). Khi tình trạng đau được cải thiện, cắt dần các thuốc này theo thứ tự sau: tramadol, ketoprofen và sau đó là ac- etaminophen.Sau giai đoạn đầu tiên này, nếu đột ngột đau nặng lên thì phải tập trung chẩn đoán các biến chứng như tái phát herpes.
Bệnh nhân nên ăn lỏng và hạn chế nói trong thời gian gây bít tắc để tránh bong lớp mặt nạ làm từ băng keo dính và hạn chế chuyển động của mặt. Theo Baker và Gordon, những lưu ý này giúp bảo tồn sự toàn vẹn của quá trình phục hồi da và tránh để lại sẹo không mong muốn.

Hình 23: bệnh nhân 56 tuổi với nếp nhăn sâu ở quanh miệng và những đốm tăng sắc tố. 
Hình 24: Hình ảnh ngay sau khi peel phenol theo phương pháp không gây bít tắt ở vùng quanh miệng trên. 
Hình 25: 1 năm sau khi peel ở vùng quanh miệng trên với dung dịch Baker theo phương pháp không gây bít tắt và 10 ngày sau peel TCA theo công thức Jessner trên toàn bộ phần còn lại của khuôn mặt. 
Hình 26: cùng một bệnh nhân với hình 23,24 và 25, 9 năm sau peel.
Có thể lột bỏ lớp mặt nạ băng dính hoặc vật gây bít tắt khác sau 48h. Sau 48 h dịch xuất tiết sẽ giúp việc lột bỏ lớp băng dính dễ dàng hơn. Các phần của thượng bì có thể bị dính vào băng dính và bị lột đi. Nói chung, quá trình này không cần phải gây tê, tuy nhiên có thể dùng giảm đau và giảm lo âu nếu thấy cần thiết.
Sau khi loại bỏ lớp mặt nạ gây bít tắt, bề mặt da trở nên phù và ẩm ướt, có thể xuất hiện các chấm xuất huyết (hình 27); ngoài ra bề mặt da còn được phủ bởi lớp thượng bì hoại tử, chất xuất tiết, và thỉnh thoảng là mài hình thành do chất xuất tiết khô lại (ở vùng không được bít tắt hoặc ở vùng lột bỏ lớp mặt nạ băng dính sớm). Ngoài ra cũng thường thấy phù xuất hiện ở cổ và ngực.
Nên rửa nhẹ vết thương để loại bỏ những sợi fibrin, mài và lớp thượng bì hoại tử, tránh lột bỏ những mảng thượng bì vẫn đang còn dính trên da mặt.
Khi mà hàng rào bì-thượng bì bị bẻ gãy, có thể hạn chế cảm giác khô và khó chịu do tiếp xúc trực tiếp với môi trường bằng cách bôi mỡ dưỡng ẩm như dimethicone 5-10% trong petrolatum (Odo và Chichierchio 1998) hoặc petrolatum đơn thuần.
Nhiễm trùng hiếm khi xảy ra trong peel phenol, nhưng cũng nên lau vết thương cẩn thận bằng nước muối hoặc nước vài lần mỗi ngày trước khi bôi mỡ. Việc làm sạch vết thương nên được tiếp tục cho đến khi hoàn tất quá trình tái tạo thượng bì, quá trình này khoảng 7-10 ngày.
Đỏ da sau peel xuất hiện trong khoảng 45-90 ngày, thường là 90 ngày khi dùng công thức Baker và ngoại lệ có thể kéo dài đến 6 tháng. Khuyến khích trang điểm để che khuất da đỏ.
Bảo vệ khỏi ánh nắng là bắt buộc, nên sử dụng chống nắng ngay khi thượng bì phục hồi. Nên bắt đầu bằng chống nắng vật lí vì nó ít gây kích ứng da.

Hình 27: lột bỏ lớp băng keo dính dùng để gây bít tắc, có thể thấy lớp thượng bì dính vào băng keo và các đốm xuất huyết ở vùng má.
Cảm giác ngứa và khô bắt đầu xuất hiện sau khi thượng bì phục hồi và có thể rất khó chịu. Trong những trường hợp này có thể dùng hydrocortisone bôi hoặc chất làm mềm.
Retinoid hoặc những loại acid để chống lão hóa thường có thể sử dụng lại trong khoảng 60 ngày hoặc hơn.
Có thể peel lại sau 12 tháng và thời gian hồi phục tại chỗ có thể hoàn toàn sau 6 tháng. Trong thực hành của chúng tôi, những khoảng thời gian này có thể ngắn hơn tùy trường hợp, ví dụ như ở vị trí mà chất peel không xâm nhập vào da được và để lại vùng da gồ gề không được peel (hình 28).
PHỐI HỢP GIỮA PEEL SÂU VÀ PHẪU THUẬT THẨM MỸ
Lên kế hoach trước khi phối hợp peel sâu và phẫu thuật thẩm mỹ là rất quan trọng. Nếu thủ thuật phẫu thuật liên quan đến vạc da cơ hoặc phẫu thuật sâu, thì nên hoãn peel phe- nol toàn bộ mặt lại sau 3 tháng, đối với phẫu thuật mí mắt thì thời gian trì hoãn là 6 tháng. Những khoảng thời gian trì hoãn này rất cần thiết bởi vì sự cấp máu cho vạc đã bị tổn thương và nếu có thêm tổn thương trên da có thể gây hoại tử toàn bộ da và bị lộn mi (Brody 1997b).Cũng có sự xác nhận bởi nhiều nghiên cứu mô học rằng quá trình tái tạo collagen không hoàn tất trong khoảng thời gian 60-90 ngày sau peel trung bình hoặc sâu.
![]() |
| Hình 28: (a) ảnh trước khi bôi lớp phenol mới ở những vùng da không đều, 3 tháng sau khi peel công thức Baker (bệnh nhân ở hình 6). (b) 3 ngày sau lượt peel mới. |
BIẾN CHỨNG
Biến chứng liên quan đến peel phenol được tóm tắt trong bảng 4.Bảng 4: biến chứng liên quan đến peel phenol
Rối loạn sắc tố
Biến chứng tại chỗ hay gặp nhất là thay đổi sắc tố da. Tăng sắc tố sau viêm có thể được điều trị một cách dễ dàng bằng cách dùng các chất ức chế hình thành sắc tố và bảo vệ da khỏi ánh sáng mặt trời. Trong khi peel, phenol có thể được bôi không đều và có thể phải bôi lại tại những vùng đó (Hình 29,30 và 31).Peel phenol có thể dẫn đến mất sắt tố vĩnh viễn một khi phenol gây độc tố trực tiếp lên tế bào melanocyte (Fulton và Promb 2004). Măc dù mela- nocyte có sự phân bố tốt, chúng chứa những hạt melanin mỏng và giảm số lượng melanosome. Một khi xuất hiện mất sắc tố thì rất khó để giải quyết và biến chứng này thường xảy ra khi peel sâu.
Đường ranh giới giữa 2 vùng da khác màu không hẳn là một biến chứng của peel phenol; đường này đơn giản chỉ thể hiện sự khác nhau giữa vùng da được điều trị và vùng da không được điều trị, tuy nhiên đường này nhìn không được thẩm mỹ khi nó quá rõ (hình 32). Để hạn chế làm rõ đường này, nên chú ý bôi phenol phía dưới đường cằm một chút. Nếu đường ranh giới này xuất hiện trong khi peel ở một khu vực ở mặt thì toàn bộ vùng da mặt còn lại phải được peel trung bình hoặc peel sâu. Nếu xuất hiện đường này ở cổ thì không nên điều trị với công thức Baker bởi vì da cổ có ít phần phụ hơn da mặt để hỗ trợ cho quá trình tái tạo thượng bì và nguy cơ có sẹo và co kéo cao hơn. Tuy nhiên có thể sử dụng các phương pháp peel nông hơn như peel bằng trichloroace- tic acid hoặc công thức phenol điều chỉnh.
Đỏ da và đỏ bừng da kéo dài
Đỏ da kéo dài có thể là dấu hiệu ban đầu của sẹo hoặc viêm da tiếp xúc. Biến chứng này có thể là do sử dụng retinoid hệ thống hoặc retinoid bôi, mức độ cảm thụ của gen, hoặc do hiện đang bị nhiễm trùng (Brody 1989; Maloney 1998). Nếu vùng đỏ da trở nên cứng thì có thể chỉ định massage tại chỗ, bôi silicone, kem bôi corticoid mạnh, corticoid hệ thống hoặc tiêm trong tổn thương, và sử dụng laser pulse dye để ngăn hình thành sẹo.Đỏ bừng da có thể kéo dài trong nhiều tháng, có báo cáo cho rằng biến chứng này có thể kéo dài từ 2 năm hoặc nhiều hơn. Nước nóng và xúc động có thể làm nặng thêm tình trạng này.
Sẹo
Sẹo là biến chứng xếp thứ 2 khi peel hóa chất. Sẹo là biến chứng tại chỗ đáng sợ vì làm mặt nhìn rất xấu. May mắn thay, chúng ta thường thấy xuất hiện sẹo phì đại sau đó xẹp dần thay vì sẹo lồi, co kéo, hoại tử và teo (hình 33 và 34). Những biến chứng này có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như dùng dung dịch mạnh phối hợp gây bít tắt, gây bít tắt quá chặt gây phù sau peel, nhiễm trùng hoặc tiến hành peel phenol và thủ thuật peel khác hoặc phẫu thuật cùng một thời điểm hoặc với khoảng cách ngắn.Sẹo phì đại và sẹo co kéo có thể ảnh hưởng đến chức năng và chuyển khuôn mặt, và trong hầu hết các trường hợp phải đòi hỏi can thiệp phẫu thuật với nhiều phương pháp để giảm kích thước sẹo. Sẹo thường được hình thành trong 2-3 tháng sau peel (hình 35).
Nhiễm trùng
Mặc dù hiếm gặp, nhưng nhiễm khuẩn có thể làm bệnh nhân sợ khi chăm sóc vết thương của họ do da mặt lúc này ứ đọng các mảnh hoại tử và chốc hóa thứ phát. Nhiễm vi khu- ẩn nên được điều trị với kháng sinh đường uống và chăm sóc tại chỗ. Tất cả các loại peel đều có nguy cơ làm tái hoạt virus herpes.Perkins (Perkins và Sklarew 1996) báo cáo rằng 50% bệnh nhân có tiền sử nhiễm herpes bùng phát trở lại sau peel, trong khi 6,6 % bệnh nhân không có tiền sử bị mắc herpes sau peel trong trường hợp không được dự phòng bằng thuốc kháng virus. Thời điểm bùng phát herpes có thể từ 5-12 ngày hoặc nhiều hơn và sự bùng phát này dẫn đến làm chậm lành vết thương.
Đặc tính của tổn thương her- pes là không ở dạng mụn nước mà biểu hiện bằng những ổ loét nông hoặc thậm chí loét 2-3 mm, nằm đơn lẻ hoặc hợp nhất lại với vùng đáy đỏ (hình 36).
Do đó, dự phòng bằng kháng virus đường uống là điều trị chuẩn trong peel sâu. Một vài tác giả khuyến cáo nên bắt đầu uống kháng virus 2 ngày trước khi làm thủ thuật và tiếp tục trong 14 ngày tiếp theo, vì virus tái bản chủ yếu khi da không còn nguyên vẹn và ít bị nhiễm virus hơn trong những ngày đầu (Monheit và Chastain 2008). Trong trường hợp tái hoạt vi- rus herpes, thì đều quan trọng là phải chẩn đoán nhanh và điều trị thích hợp càng sớm cầng tốt. Trong trường hợp này liều thuốc điều trị kháng virus phải là liều khuyến cáo cao nhất (hình 37).
Biến chứng hệ thống
Trong tất cả các loại biến chứng thì rõ ràng biến chứng hệ thống là đáng sợ nhất. Đặc biệt là nên tránh rối loạn nhịp tim bằng cách tuân thủ theo quy trình chuẩn của thủ thuật. Phenol được biết là chất có độc tính trực tiếp lên cơ tim và các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có sự giảm sức co cơ tim và dòng điện hoạt động tim (Stag- none 1987). Ở người, đã có những báo cáo về rối loạn nhịp tim khi peel phenol như nhịp nhanh nút xoang, ngoại tâm thu lành tính, và nhanh thất (Truppman 1979). Khoảng 10 % các trường hợp rối loạn nhịp được báo cáo xảy ra trong khoảng thời gian 10-15 phút chờ đợi giữa các lần peel của các đơn vị thẩm mỹ trong khi tiến hành thủ thuật (Price 1990).Để giảm thiểu nguy cơ rối loạn nhịp tim, nên dùng lượng phenol tối thiểu, bôi phenol theo từng đơn vị thẩm mỹ và tôn trọng khoảng thời gian tối thiểu khi bôi giữa các đơn vị, truyền dịch qua tĩnh mạch và tăng lợi tiểu cho bệnh nhân.
Những biến chứng khác
Mụn thịt do quá trình tái tạo lớp thượng bì có thể được hình thành trong 1-3 tháng sau khi peel. Những nang thượng bì nhỏ, nông thường tự giới hạn nhưng cũng có thể điều trị để loại bỏ chúng.Ngứa thường xuất hiện sau khi tái tạo thượng bì và thường bắt đầu trong 2 tuần đầu sau điều trị và tiếp tục trong khoảng 1 tháng. Trong trường hợp này có thể dùng kháng histamine, aspirin, thuốc NSAIs và corticosteroids bôi để làm giảm triệu chứng.
Giãn mạch thường không trực tiếp gây ra do peel da, nhưng peel da làm cho giãn mạch trở nên rõ hơn do sau điều trị da mặt sẽ trắng sáng hơn. Có thể dự phòng xuất huyết bằng cách tránh tác động vật lí lên da mặt và tránh nắng.
Những biến chứng sau peel khác là bất ổn về tâm lí và trẩm cảm ở một vài bệnh nhân; do đó quy trình lựa chọn bệnh nhân là hết sức quan trọng.
Mô học
Dung dịch Baker phá hủy hoàn toàn lớp thượng bì bằng cách li sừng và tạo ra vùng gây viêm phá hủy tế bào kéo dài đến lớp bì lưới giữa. Phản ứng này đạt đỉnh trong vòng 48h, đây cũng là thời điểm quá trình tái tạo lại thượng bì bắt đầu và hoàn tất sau 7-14 ngày. Ở lớp thượng bì, có quá trình bình thường hóa cực tế bào và những bất đồng mô học, theo sau bởi sự giảm các hạt melanosome trong khi số lượng tế bào melanocytes vẫn phân bố đồng đều (không giảm).Lớp bì bắt đầu dày lên sau 2 tuần điều trị, và quá trình tái tạo col- lagen kéo dài cho đến 90 ngày sau đó (hình 38,39, và 40). Một vùng bì mới khoảng 2-3 mm được hình thành giữa lớp thượng bì và lớp mô đàn hồi nằm bên dưới. Vùng này được hình thành bởi các bó collagen mỏng, chắc nằm song song, có tổ chức và xắp xếp nằm ngang so với bề mặt da. Những sợi elastin được tái tạo với số lượng lớn, sắp xếp tự do tạo nên mạng lưới, và đôi khi nằm song song với các sợi col- lagen mới.
Mặc dù kĩ thuật đơn giản, và chi phí thấp, nhưng peel phenol phụ thuộc phần lớn vào kĩ năng của và kinh nghiệm của người bôi, và có thể đạt được kết quả khác biệt.
Peel phenol được biết đến từ rất lâu nhưng vẫn ít khi được các bác sĩ da liễu sử dụng do độc tính của phe- nol. Những độc tính này có thể hạn chế nếu chăm sóc hợp lí và theo đúng kế hoạch.
Peel phenol có tác dụng cải thiện về mô học và lâm sàng rất nhiều, và dù quá trình lão hóa vẫn tiếp tục diễn ra nhưng những nghiên cứu trên mô học chứng minh rằng sự tái cấu trúc lớp bì sau peel phenol kéo dài rất lâu và có thể vĩnh viễn. Peel phenol được đề cập bởi một vài tác giả như là một phương pháp làm đẹp kéo dài trong y khoa (hình 41)
GHI NHỚ
- Lựa chọn bệnh nhân phù hợp: lão hóa da ánh sáng nặng và tiền sử tâm lí.
- Ghi hướng dẫn trước và sau peel cho bệnh nhân.
- Giảm đau hiệu quả, tốt nhất nên có sự hỗ trợ của bác sĩ gây mê.
- Độ sâu khi peel dung dịch Bak- er rất khác nhau tùy thuộc vào phần trăm dầu croton, số lần bôi, thể tích dung dịch bôi và có gây bít tắc bằng băng keo dính hay không.
- Tuân thủ kĩ thuật bôi và tôn trọng khoảng thời gian chờ khi bôi giữa các đơn vị thẩm mỹ để tránh rối loạn nhịp tim và những biến chứng hệ thống khác.
- Theo dõi bệnh nhân cẩn thận, chủ yếu trong tuần đầu tiên, giãn dần khoảng cách thời gian theo dõi bệnh nhân cho đến hết 3 tháng.
American Society of Anesthe- siologists Task Force on Sedation and Analgesia by Non-Anesthesiologists. Practice guidelines for sedation and analgesia by non-anesthesiologists. Anesthesiology. 2002;96(4):1004–17.
Asken S. Unoccluded Bak- er-Gordon phenol peels: review and update. J Dermatol Surg Oncol. 1989; 15(9):998–1008.
Baker TJ. Chemical face peel- ing and rhytidectomy. Plast Reconstr Surg. 1962;29:199–207.
Bames HO. Truth and fallacies of face peeling and face lifting. Med J Rec. 1927;126:86–7.
Bassanezi BSB, Oliveira Filho AG. Postoperative analge- sia. Rev Col Bras Circ. 2006;33(2):116–22.
Beeson WH. The importance of cardiac monitoring in superficial and deep chemical peeling. J Dermatol Surg Oncol. 1987;13(9):949–50.
Brody HJ. Complications of chemical peeling. J Dermatol Surg On- col. 1989;15:1010–9.
Brody HJ. Complications of chemical peels. In: Brody HJ, edi- tor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997a. p. 161–93.
Brody HJ. Deep peeling. In: Brody HJ, editor. Chemical peeling and resurfacing. St. Louis: Mosby; 1997b.
p. 138–42.
Brown AM, Kaplan LM, Brown ME. Phenol induced histological skin changes: hazards, technique and uses. Br J Plast Surg. 1960;13:158.
Deprez. Qui (n0) a (pas) peur Du phénol? J Méd Esth Chir Dermatol. 1998;25:21–8.
Di Santis EP, Elias BLF, Barros RVS, Mandelbaum SH.
Peeling profundo de fenol: como controlar a dor durante a apli- cação e até 12 horas após? Surg Cos- met Dermatol. 2014;6(1):11–5.
Fulton JE, Porumb S. Chemical peels: their place within the range of resurfacing techniques. Am J Clin Der- matol. 2004;5(3):179–87.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part
II. The lay peelers and their croton oil formulas. Plast Reconstr Surg. 2000a;105(1):240–8.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part III. The plastic surgeon’s role. Plast Re- constr Surg. 2000b;105(2):752–63. Hetter GP. An examination of the phe- nol-croton oil peel, part I. Dissect- ing the formula. Plast Reconstr Surg. 2000c;105(1):227–39.
Hetter GP. An examination of the phenol-croton oil peel, part IV. Face peel results with different concentra- tion of the phenol and croton oil. Plast Reconstr Surg. 2000d;105:1061–83.
Kligman AM, Baker TJ, Gordon HL. Long-term histologic follow-up of phenol face peels. Plast Reconstr Surg. 1985;75:652–9.
Kocum AI, Sener M, Caliskan E, Bozdogan N, Micozkadioglu D, Yil- maz I, et al. Intravenous paracet- amol and dipyrone for postoperative an- algesia after day-case tonsillectomy in children: a prospective, ran- dom- ized, double blind, placebo controlled study. Braz J Otorhinolaryngol. 2013;79(1):89–94.
Litton C. Chemical face lifting. Plast Reconstr Surg. 1962;29:371–80.
Maloney BP, Millman B, Mon- heit G, McCollough EG. The etiology of prolonged erythema after chemical peel. Dermatol Surg. 1998;24:337–41.
Matarasso SL. Phenol chemi- cal peels. In: Wheeland RG, editor. Cu- taneous surgery. 1st ed. Philadelphia:
W.B. Saunders; 1994. p. 491–508.
Monheit GD, Chastain MA. Chemical and mechanical skin resur- facing. In: Bolognia JL, Jorizzo JL, Ra- pini RP, editors. Dermatology. Spain: Elsevier; 2008. p. 2321–7. Moy LS, Peace S, Moy RL. Comparison of the effect of various chemical peeling agents in a mini-pig model. Dermatol Surg. 1996;22:429–32.
Odo MEY, Chichierchio AL. Peelings quimicos. In: dos Santos H, editor. Práticas em Cosmiatria e Me- dicina Estética. 1st ed. São Paulo: Tec- nopress Editora e Publicidade Ltda; 1998. p. 63–87.
Otley CC, Nguyen TH. Safe and effective conscious seda- tion admin- istered by dermatologic surgeons. Arch Dermatol. 2000;136(11):1333–new treatment strategies in the pro- phylaxis of patients undergoing pro- cedures of the perioral area. Plast Re- constr Surg. 1996;98:427–33.
Price NM. EKG changes in re- lationship to the chemical peel. J Der- matol Surg Oncol. 1990;16:37–42. Stagnone JJ, Stagnone GJ. A second look at chemabrasion.JDermatolSurgOncol. 1982;8:701–5.
Stagnone GJ, Orgeel MB, Stag- none JJ. Cardiovascular effects of topi- cal 50 % trichloroacetic acid and Bak- er’s phenol solution. J Dermatol Surg Oncol. 1987; 13:999–1002.
Stegman SJ. A study of derm- abrasion and chemical peels in an an- imal model. J Dermatol Surg Oncol. 1980; 6(6):490–7.
Stegman SJ. A comparative histologic study of the effects of there peeling agents and dermabrasion on normal and sun damaged skin. Aes- thet Plast Surg. 1982;6:123. Stone PA. The use of modified phenol for chemi- cal. Clin Plast Surg. 1998;25:21–44.
Stuzin JM. Chemical peel. A change in the routine. Ann Plast Surg. 1989;23:166–9.
Stuzin JM. Phenol peeling and the history of phenol. Clin Plast Surg. 1998;25(1):1–19.
Truppman ES. Major electro- cardiographic changes during chem- ical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1979; 63(1):44–8.
Perkins SW, Sklarew EC. Pre- vention of facial herpetic infections af- ter chemical peel and dermabrasion

















0 nhận xét:
Đăng nhận xét