LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Trichloroacetic Acid Peel (Phần 2) 

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Tóm tắt

Peel bằng trichloroacetic

Trichloroacetic acid (hình 1) có thể được sử dụng linh hoạt vì nó có thể được sử đụng để peel rất nông, peel nông và peel trung bình tùy thuộc vào nồng độ TCA được sử dụng (bảng 1), sự chuẩn bị da trước thủ thuật đầy đủ, số lần bôi và kĩ thuật bôi. TCA thường được sử dụng nhất để peel trung bình, đặc biệt là để điều trị rối loạn sắc tố và nếp nhăn mặt sớm (Lee 2002).
TCA là một chất ăn mòn da thu được thông qua chưng cất sản phẩn từ hơi nitric acid trên chloral acid. Acid này được tìm thấy trong môi trường như là một chất diệt cỏ, một chất chuyển hóa chính của quá trình tẩy rửa khô và như là một chất peel da. Chất này hầu như không có độc tính, thậm chí khi bôi với nồng độ đặc trên da. TCA có pKa thấp nhất và mạnh hơn bất kì acid khác nào được sử dụng trong peel da. Vì nó có khả năng thâm nhập vào nhiều lớp da khác nhau, acid peel này có tính “trung hòa”, hình thành lớp đông vón protein da.
Hình 1: cấu trúc phân tử của TCA

Hình 2: phản ứng da với TCA khi bôi. Cần bôi nhiều lớp acid ở vùng tối hơn (ở cũng nồng độ) để đạt được mức độ frost đồng nhất.

Tác dụng của TCA tùy thuộc vào nồng độ và lượng acid được bôi. TCA nồng độ cao làm dung dịch trở nên acid hơn và xâm nhập sâu hơn. Bôi nhiều lớp hơn và áp lực bôi lớn hơn trong quá trình thủ thuật cũng giúp nó xâm nhập sâu hơn. Lưu ý rằng tùy thuộc vào vùng da, có những vùng da cần phải bôi nhiều lớp (cùng nồng độ) hơn để đạt được mức độ frost (đông vón protein trên bề mặt da, màu trắng) (hình 2). Như là một đặc tính riêng biệt của TCA, những thay đổi trên da sau khi bôi (từ các đốm sáng cho đến lớp frost trắng) thể hiện được mức độ đông vón của protetin TCA nên được cất giữ trong phòng khô, lạnh và thông thoáng. Vật đựng TCA nên cứng, không dễ vỡ, thường thì TCA thích hợp cất giữ trong lọ thủy tinh đục màu (Tung và Rubin 2011).

Peel trung bình bằng Trichloroace- tic acid

Peel trung bình là thủ thuật gây ra hoại tử lớp thượng bì và lớp bì nhú với xuất hiện phù đồng nhất, và thỉnh thoảng hoại tử đến lớp bì lưới trên (0.45 nm) với sự xâm nhập rải rác của các tế bào limpho trong vài ngày đầu trên mô học. Vì khả năng xâm nhập sâu hơn, nên thời gian phục hồi trong peel trung bình cũng dài hơn so với peel bề mặt, thường thì cần 7-14 ngày. Trong khoảng thời gian 3 tháng sau thủ thuật, có sự tăng sản xuất collagen cùng với sự mở rộng của lớp bì nhú và phát triển các băng sợi dày trong lớp bì giữa. Hiệu quả của TCA có được nhờ vào khả năng làm tăng thể tích collagen, glycosaminoglycans và elastin (Handog 2012). Chính những sự thay đổi này có liên quan đến sự cải liện lâm sàng liên tục trên da trong khoảng thời gian 3 tháng sau điều trị. Trong nhiều năm, TCA nồng độ 40-50% là “tiêu chuẩn vàng” đối với peel trung bình. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng chất này có khả năng gây biến chứng cao như rối loạn sức tố và sẹo bất thường (hình 3) (Velasco 2004). Từ những thực tế trên, người ta đã phát triển peel trung bình theo hướng sử dụng phối hợp các hóa chất peel: đầu tiên sử dụng hóa chất bề mặt để gây tổn thương thượng bì và sau đó bôi TCA 35%. Với 2 bước này, kết quả cuối cùng sẽ được kiễm soát hơn và thủ thuật sẽ được tiến hành thuận lợi hơn với xâm nhập của TCA vào lớp bì nhú (Salam 2013).

Ngày nay, liệu trình phối hợp thường được sử dụng nhất là: dung dịch Jessner và TCA 35% (công thức phối hợp Monheit), glycolic acid 70% và TCA 35% (công thức phối hợp Cole- man), và CO2 rắn với TCA 35% (công thức phối hợp Brody). Tất cả những công thức phối hợp này có hiệu quả cao hơn so với khi dùng TCA đơn lẻ, nhưng an toàn hơn. Điều quan trọng cần phải lưu ý là peel bề mặt nhiều lần không mang lại hiệu quả ngang bằng so với chỉ một lần peel trung bình. Peel trung bình bằng TCA mang lại kết quả rất khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh lí (bảng 6) (Fischer 2010). Trong điều trị dày sừng ánh sáng, peel dung dịch Jessner phối hợp TCA 35% có hiệu quả tương đương với kem bôi hóa trị 5-fluorouracil với tỉ lệ bệnh nhân thấp hơn và giúp cải thiện tình trạng lão hóa da do ánh sáng (Lawrence 1995).

Hình 3: Sẹo sau 6 tháng làm thủ thuật với TCA 50%

Chuẩn bị cho peel trung bình

Dựa vào những thông tin đã được trình bày và sau khi đưa ra chỉ định đúng đắn, một vài vấn để phải được lưu tâm để đảm bảo có được kết quả như mong đơi và hạn chế tối đa những biến chứng có thể xảy ra. Cần dành thời gian để giải đáp toàn bộ thắc mắc của bệnh nhân về thủ thuật. Không bao giờ quên chụp ảnh vùng da của bệnh nhân trước khi tiến hành thủ thuật để so sánh sau này.

Trong trường hợp bệnh nhân đến điều trị thẩm mỹ, thì một vài bệnh nhân vừa có thể là chỉ định của peel hóa chất, cũng như có chỉ định tiêm botox. Trong trường hợp này, khuyến cáo nên tiêm botox trước khi peel hóa chất. Tiêm botox có thể tăng cường hiệu quả của peel trung bình bằng cách làm bất động các cơ gây ra những nếp nhăn động trong quá trình tái tạo collagen sau thủ thuật. Một điều quan trọng là khuyên bệnh nhân không hút thuốc vì thuốc lá có thể hạn chế hiệu quả của thủ thuật và làm chậm lành vết thương. Bệnh nhân phải được yêu cầu sử dụng chống nắng phổ rộng, chống lại được cả tia UVA và UVB (ưu tiên những sản phẩm có chứa tita- nium dioxide và zinc oxide). Đối với bệnh nhân có phân loại da theo
Fitzpatrick típ III-VI (bảng 5) thì việc bôi hydroqunone 4-8% 2 lần mỗi ngày sau thủ thuật và sau khi lành có thể mang lại lợi ích, thậm chí vẫn có ích khi họ không có tiền sử rối loạn sắc tố. Hydroquinone ức chế enzyme tyrosi- nase, do đó làm giảm tổng hợp mela- nin thượng bì mà quá trình này có thể xảy ra sau khi peel.

Nếu bệnh nhân có tiền sử nhiễm herpes, thì cần phải lưu ý vì peel hóa chất có thể gây khởi phát một đợt her- pes mới, đặc biệt ở vùng quanh miệng và quanh ổ mắt. Do đó, khuyến cáo nên dự phòng bằng acyclovir 400 mg 3 lần mỗi ngày, hoặc famciclovir 250 mg 2 lần mỗi ngày hoặc valacyclovir 500 mg 2 lần mỗi ngày bắt đầu từ ngày làm thủ thuật và kéo dài trong khoảng 10-14 ngày (Gadelha và costa 2009; Bolognia 2012).

Sử dụng tretinoin bôi mỗi tối trước khi làm thủ thuật có thể làm tăng tốc độ tái tạo thượng bì vì retinoids có vai trò kích thích tăng sinh các tế bào thượng bì. Tretinoin làm tăng độ sâu khi peel hóa chất bằng cách làm mỏng lớp sừng. Một loại retinoid, điển hình như kem bôi tretinoin 0.02-0.1% nên được kê cho bệnh nhân càng sớm càng tốt. Hiệu quả của retinoid thấy được chỉ sau 14 ngày sử dụng mỗi tối. Cần lưu ý tình trạng viêm da do retinoid, nếu bệnh nhân có viêm da do reti- noids thì nên trì hoãn thủ thuật peel để tránh gây ra tình trạng đỏ da kéo dài sau thủ thuật. Sau khi tiến hành thủ thuật, cần đợi đến lúc quá trình tái tạo thượng bì hoàn tất mới được sử dụng retinoid trở lại. Các chất tẩy tế bào chết như glycolic acid hoặc lac- tic acid có khả năng làm giảm kết dính giữa các tế bào sừng và kích thích tăng sinh thượng bì bằng cách làm mất kết dính lớp sừng (Lupi và Cunha 2011; Gadelha và Costa 2009; Khunger 2008).


Bảng 6: Hiệu quả điều trị của TCA


Đáp ứng tối

Dày sừng ánh sáng Nám má nông Tăng sắc tố nông Tàn nhang

Đốm nâu

Sẹo lún (kỹ thuật CROSS)

Đáp ứng thay đổi

Dày sừng tuyến bã Dày sừng phì đại Nám má hỗn hợp Tăng sắc tố hỗn hợp

Đáp ứng kém

Dày sừng tuyến bã nặng Nám má sâu

Tăng sắc tố sâu

Dung dịch Jessner và TCA 35% (công thức phối hợp Monheit)

Công thức peel trung bình phối hợp phổ biến nhất là dung dịch Jessner
+ TCA 35%. Sử dụng dung dịch Jess- ner (14g resorcinol, 14g salicylic acid, 14g lactic acid 85%, thêm ethanol vào để tạo ra tổng thể tích là 100ml) có hoạt tính ly sừng để thay đổi hàng rào thượng bì trước khi bôi TCA sẽ giúp đạt kết quả đồng nhất và sẽ giúp đạt kết quả đồng nhất và hấp thu nhanh hơn (hình 4,5, và 6) (Tung và Rubin)

Hình 4: bệnh nhân 1, trước và 6 tháng sau khi peel dung dịch Jessner+TCA 35%

Hình 5: bệnh nhân 2, trước và 3 tháng sau khi peel dung dịch Jessner+TCA 35%

Hình 6: bệnh nhân 3, trước và 6 tháng sau khi peel dung dịch Jess- ner+TCA 35%


Trong quá trình chuẩn bị để peel phối hợp, bệnh nhân nên nằm ở tư thế đầu nâng 300, lau mạnh vùng điều trị bằng acetone hoặc bôi alcohol trong 2 phút. Lưu ý những vùng tiết bã như vùng trán giữa 2 cung mày, chân tóc, thái dương, mũi và môi trên. Cách này sẽ giúp hóa chất peel thấm tốt hơn và kết quả đồng nhất hơn khi làm thủ thuật. Căn dặn bệnh nhân phải nhắm trong suốt quá trình làm thủ thuật (nếu peel da mặt). Trong trường hợp dày sừng ánh sáng phì đại, có thể tiến hành nạo bằng curette trước khi làm thủ thuật để hóa chất peel được hấp thu tốt hơn.

Dung dịch Jessner có thể được bôi bằng miếng gạc được gấp lại bốn lần hoặc bằng cục bông cotton lớn. Bôi một đến hai lớp dung dịch Jessner, lúc này da sẽ đỏ lên và hình thành những đốm frost trắng, tuy nhiên những đốm trắng này nhẹ hơn so với TCA (bôi sau). Nên bắt đầu bôi ở vùng trán, sau đó đến vùng 2 bên má, mũi, và cằm. Sau khi bôi dung dịch Jessner, nên đợi khoảng 2 phút trước khi bôi TCA. Một vài tác giả có thể bôi thuốc tê (vd: EM- LA-lidocain 2.5% và prilocain 2.5%) lên vùng da điều trị trước khi bôi TCA để làm tăng khả năng dụng nạp của bệnh nhân với thủ thuật. Bước tiếp theo là bôi TCA 35% theo cách tương tự được mô tả với dung dịch Jessner, lưu ý là không ngâm gạc vào trong dung dịch TCA. Vùng mí mắt nên để bôi cuối cùng và bôi cách bờ mí mắt từ 3-4 mm. Khi bôi mí mắt nên dùng cục bông cotton để bôi. Có thể cần phải lau khô nước mắt trong suốt quá trình
làm thủ thuật để bảo vệ mắt khỏi bị tổn thương do hiện tượng mao dẫn. Hơn nữa, nước mắt chảy xuống mặt sẽ pha loãng hóa chất và tạo ra một đường ở trên da mà tại đó hóa chất chỉ có tác dụng peel nông hơn là peel trung bình (do hóa chất bị pha loãng). Ngoài ra, khi nước mắt chảy xuống vùng cổ sẽ mang acid đến vùng này và làm cho bệnh nhân đau từ nhẹ đến trung bình.

Sau khi bôi, các điểm frost trắng cạnh nhau bắt đầu xuất hiện trong 30s và to ra trong vòng 2-3 phút. Tại thời điểm này, nên đánh giá mức độ frost (bảng 7) và nên nhớ là mức độ frost mong muốn đạt được trong peel trung bình là ở độ II và III. Cần nhớ vùng nào có khả năng để lại sẹo cao như vùng cung gò má, vùng xương ở hàm và cằm, thì đối với những vùng này không nên để hình thành lớp frost quá độ II. Vài phút sau đó, lớp frost xuất hiện rõ và gây khó chịu do tạo ra cảm giác bỏng, có thể dùng quạt để làm dịu cảm giác này. Nên cẩn thận khi bôi lại lần 2, cần dự trữ cho những vùng peel chưa hoàn toàn. Nếu cần thiết, có thể đợi 3-4 phút để xem đã đạt được mức độ frost cần thiết chưa để tránh bôi thêm lớp hóa chất nữa sẽ làm tăng độ sâu peel và gây ra những đáp ứng không mong muốn.

Đắp gặc thấm saline 0.9 % lạnh sẽ giúp bệnh nhân dễ chịu hơn sau thủ thuật. Lớp frost trắng lúc này sẽ được thay thế bằng đỏ da. Có thể xuất hiện phù sau thủ thuật. Quá trình tái tạo collagen diễn ra trong 3-4 tháng sau thủ thuật. Thủ thuật cho kết quả tốt, thậm chí là chỉ sau liệu trình đầu tiên, và do đó không phải lúc nào cũng cần lặp lại thủ thuật peel (Lupi và Cunha 2011; Gadelha và Cos- ta 2009).

Glycolic acid 70% và TCA 35 % (Công thức phối hợp Coleman)

Đây cũng là cách thức peel trung bình có thể đạt được độ sâu tương tự như trong công thức phối hợp dung dịch Jessner với TCA 35%. Nghiên cứu mô học được tiến hành bởi Coleman đã cho thấy rằng tổn thương hóa học có thể xảy ra ở lớp bì giữa kèm theo sự lắng đọng của collagen và mô sợi ở “vùng Grenz” xảy ra 60-90 ngày sau thủ thuật. “vùng Grenz” cũng được nhìn thấy trong công thức phối hợp dung dịch Jessner + TCA 35% và tương đối hẹp hơn đối với công thức phối hợp CO2+ TCA 35%. Công thức phối hợp Coleman được dùng khá là phổ biến ở Mỹ để peel trung bình.

Sau khi bệnh nhân nằm ở tư thế đầu nâng 300, mắt nhắm, tiến hành lau da bệnh nhân bằng xà phòng và nước, không cần phải tẩy nhờn. Bôi glycolic acid 70% bằng miếng gạc gấp nhỏ, hoặc bằng cục bông, và đợi 2 phút. Không cần dùng dung dịch bi- carbonate để trung hòa glycolic acid. Sau 2 phút, rửa vùng da dưới vòi nước lạnh. Sau đó vài phút, bôi TCA 35% theo cách được mô tả đối với trường hợp bôi công thức phối hợp dung dịch Jessner + TCA 35% như ở phần trước.

CO2 rắn và TCA 35% (Công thức phối hợp Brody)

Brody công bố phương pháp peel nông bằng nước đá CO2 + TCA 35% vào năm 1986. CO2 rắn có khả năng gây tổn thương lớp thượng bì mà không để lại nguy cơ gây đóng băng lớp bì sâu hơn, cũng như nguy cơ giảm sắc tố và sẹo. Trước thủ thuật, chuẩn chỉ da bằng cách dùng alcohol hoặc acetone trong khoảng 2 phút. Sau đó, tiến hành bôi CO2 ở vùng điều trị với áp lực đè khác nhau tùy vào độ sâu theo kế hoạch điều trị (vd: nếp nhăn sâu hơn ở quanh miệng, dày sừng ánh sáng nặng, sẹo trứng cá thì phải gây tổn thương mạnh hơn). Áp lức thấp là áp lực đè khoảng 3-5 s, áp lực trung bình là 5-8 s, và áp lực cao từ 8-15s. Tiếp đến là bôi TCA 35% và lau khô da. Bác sĩ Brody điều trị những vùng da nhạy cảm nhất trước (vùng mí mắt, mũi, má, và quanh miệng, sau đó đến vùng trán). Sau khi peel TCA 35%, túi đá lạnh được gói lại trong khăn giấy sẽ được sử dụng trong 5 phút, sau đó bôi dưỡng ẩm. Khó khăn trong thủ thuật này là kết quả rất khác nhau phụ thuộc vào kĩ thuật làm cũng như khó khăn để duy trì và dự trữ CO2 rắn.

Chăm sóc sau peel

Đắp gặc lạnh thấm salin 20 phút vài lần mỗi ngày cũng như bôi petrola- tum là rất có lợi cho bệnh nhân.
Không cần phải trung hòa TCA. Gạc lạnh có thể đắp ngay sau thủ thuật để làm giảm khó chịu cho bệnh nhân. Quá trình bong vảy và tái tạo thượng bì sẽ hoàn tất trong vòng 7-10 ngày; tuy nhiên ở một vài bệnh nhân đỏ da có thể kéo dài từ 2-4 tuần. Phù da có thể kéo dài vài ngày và đỉnh phù là khoảng 48 tiếng sau thủ thuật. Bệnh nhân nên được cảnh bảo rằng những sang thương tăng sắc tố có sẵn có thể trở nên tối màu hơn sau thủ thuật trong vày ngày đầu. Sau thủ thuật peel nông, bệnh nhân cần phải ngưng toàn bộ các thuốc và mỹ phẩm đang dùng (đặc biệt là retinoids) cho để khi hoàn toàn tái tạo lớp thượng bì. Bảo vệ da kĩ khỏi ánh sáng mặt trời. Cần đặc biệt lưu ý với bệnh nhân là không được cào gãi ở nhà, phải cố gắng cưỡng lại việc gỡ, lột, gãi lên vùng da điều trị. Khuyến cáo không nên tiến hành peel trung bình khác trong vòng 6 tháng sau thủ thuật, cho đến khi da lành hoàn toàn (Lupi và Cunha 2011; Gadelha và Cos- ta 2009).


Bảng 7. Mức độ frost

Mức độ frost

Loại peel

Đáp ứng lâm sàng

I

Nông

Đốm trắng Đỏ da nhẹ

II

Trung bình

Phủ lớp trắng Nền da đỏ

III

Trung bình/ sâu

Trắng đặc, đục Không có nền da đỏ


Lợi ích khi peel trung bình với TCA

  • Cho kết quả tốt hơn so với peel nông.
  • TCA là loại dung dịch không đắt, dễ chuẩn bị, ổn định và có thời hạn sử dụng dài.
  • Peel TCA không gây ngộ độc hệ thống.
  • Phối hợp peel nông với TCA 35% giúp dễ dự đoán kết quả điều trị và an toàn hơn.
  • Khi peel TCA, ngoài lợi ích về khía cạnh thẩm mỹ trong việc giúp cải thiện tình trạng lão hóa da do ánh sáng, thì peel TCA còn giúp giảm tỉ lệ ung thư không phải tế bào sắc tố trong tương lai.

Biến chứng peel trung bình (xem bài xử lí biến chứng khi peel da)

Biến chứng trong peel hóa chất bao gồm đỏ da và ngứa kéo dài, rối loạn sắc tố như tăng sắc tố sau viêm, chậm lành vết thương, nhiễm trùng, thay đổi cấu trúc da, nổi mụn hoặc mụn thịt, bầm tím vầ sẹo (Levy và Emer 2012).

Rối loạn sắc tố

Tăng sắc tố thường xảy ra ở những người có phân loại da từ IV-VI (bảng 4). Tăng sắc tố có thể xuất hiện trong 5 ngày đầu tiên hoặc cho đến 2 tháng sau thủ thuật. Cách giải quyết những biến chứng này là bôi kem chống nắng, hydroquinone, kojic acid, và azelaic acid. Trong trường hợp khó trị, có thể tiến hành peel lần nữa (TCA 10%, dung dịch Jessner hoặc Glycolic acid 50% là những lựa chọn tốt nhất). Tăng sắc tố rất thường gặp nhưng nhìn chung chỉ là tạm thời và đáp ứng tốt với những điều trị hiện hiện nay. Giảm sắc tố thường xảy ra khi hóa chất ăn sâu vào da hơn dự định và rất khó điều trị.

Đỏ da kéo dài

Ban đỏ sau peel da thường biến mất sau một vài tuần. Đỏ da kéo dài được đặt trưng bởi da tiếp tục đỏ ở thời điểm mà đáng lẽ da đã trở về bình thường đối với hầu hết mọi người sau khi peel. Thường thì đỏ da biến mất sau 3-5 ngày đối với peel nông, 15-30 ngày đối với peel trung bình và 60- 90 ngày đối với peel sâu. Nếu đỏ da kéo dài hơn những khoảng thời gian được đề cập ở trên là bất thường và là một dấu hiệu cảnh báo. Đó có thể là đấu hiệu của một vết sẹo vì đỏ da kéo dài có thể là một chỉ điểm hoặc có liên quan đến hình thành sẹo phì đại trong tương lai. Nguyên nhân thường do bệnh nhân đang mắc các bệnh như trứng cá đỏ (rosacea), viêm da cơ địa hoặc lupus, viêm da tiếp xúc với hóa chất peel hoặc chất sử dụng sau khi peel và cũng có thể do sử dụng isotretinoin đường uống gần đây. Điều trị nên được thực hiện với corticoste- roids bôi.

Nhiễm trùng

Nhiễm khuẩn, virus, hoặc nấm có thể sẽ xuất hiện và nên được điều trị theo đúng nguyên nhân. Nhiễm khuẩn thường hiếm khi xảy ra khi peel TCA và phenol vì đây là những chất diệt khuẩn. Nguy cơ gây nhiễm trùng cao nhất đó là bôi màng sinh học tổng hợp hoặc bôi dầu gây bít tắt kéo dài và vệ sinh vết thương kém. Trong trường hợp nhiễm trùng nên lấy miếng gạc để đem đi cấy và làm kháng sinh đồ nếu có thể. Lưu ý với những bệnh nhân có ức chế miễn dịch và đái tháo đường vì những đối tượng này rất dễ bị nhiễm candida. Có thể thấy mủ nông trong trường hợp nhiễm candida. Ngoài ra cũng cần kiểm tra xem gần đây bệnh nhân có sử dụng kháng sinh hoặc ste- roid bôi kéo dài không, vì đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nhiễm nấm. Nhiễm herpes đặc trưng do sự tái hoạt hóa virus herpes xuất hiện ở trên mặt và vùng quanh miệng một cách đột ngột với một nhóm các mụn nước, vỡ để lại một đám vết trợt, và thường có cảm giác đau (Brody 2001).

Sẹo

Sẹo có thể xuất hiện ở bệnh nhân có tiền sử sẹo lồi, những người làm peel trung bình khi đang sử dụng isotretinoin uống trong 6 tháng đầu tiên. Ngoài ra cũng có thể để lại sẹo trong các trường hợp nhiễm trùng thứ phát, chấn thương, hoặc bệnh nhân lấy tay lột vảy trong thời gian sau peel. Nguy cơ bị sẹo phì đại sau peel trung bình là rất hiếm. Nếu xảy ra, thì thường thấy ở vùng xương hàm dưới và vùng quanh miệng. TCA là chất ăn mòn mạnh hơn phenol do đó khả năng để lại sẹo cao hơn (Nikalji 2012). Nên điều trị càng sớm càng tốt những trường hợp này với corticosteroids bôi mạnh hoặc tiêm corticosteroid vào tổn thương.

Những biến chứng khác

Ngứa, chậm lành vết thương, bầm tím, nổi ban dạng mụn, và phản ứng dị ứng với các sản phẩm được sử dụng là những biến chứng khác khi peel. Với các hóa chất như TCA hoặc glycolic acid thì chưa có báo cáo về phản ứng dị ứng với những chất này; tuy nhiên TCA cố thể gây ra mày đay vật lí (Tung và Rubin 2011).

Ghi nhớ

  • Cần nhớ rằng, kết quả đạt được sau một liệu trình peel trung bình đối với tổn thương da ánh sáng là kết quả khó có thể đạt được bởi bất kì một liệu trình điều trị bằng công nghệ mới nào.
  • Không bao giờ quên chụp ảnh vùng da cần điều trị của bệnh nhân trước khi tiến hành thủ thuật peel để dùng làm tư liệu so sánh sau khi peel.
  • Công thức phối hợp peel trung bình phổ biến nhất là dung dịch Jess- ner + TCA 35%.
  • Đắp gặc thấm saline 0.9% lạnh có thể làm bệnh nhân cảm thấy thỏa mái và dễ chịu hơn sau thủ thuật. Quá trình bong vảy và tái tạo thượng bì hoàn thành trong khoảng 7-10 ngày. Phù có thể kéo dài vài ngày và đỉnh phù là 48h.
  • Quá trình tái tạo collagen xảy ra trong 3-4 tháng sau thủ thuật.

Tài liệu tham khảo

Bolognia JL, Jorizzo JL, Schaf- fer JV. Dermatology 3rd ed. Philadel- phia: Elsevier Saunders; 2012. Chap- ter 154
Brody HJ. Complications of chemical resurfacing. Dermatol Clin. 2001;3:427–37.
Brody HJ, Monheit GD, Resnik SS, Alt TH. A history of chemical peel- ing. Dermatol Surg. 2000;26:405–9.
Dingman DL, Hartog J, Siemi- onow M. Simultaneous deep-plane face lift and trichloroacetic acid peel. Plast Reconstr Surg. 1994;93:86–93. ; discussion 4–5.
Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera MS, Dreno B, Cos- metic Derma- tology European Expert Group. Chem- ical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. J Eur Acad Dermatol Ve- nereol. 2010;24(3):281–92.
Gadelha AR, Costa IMC. Ciru- rgia dermatológica em consultório. 2nd ed. São Paulo: Atheneu; 2009; 71–75.
Glogau RG. Aesthetic and ana- tomic analysis of the aging skin. Semin Cutan Med Surg. 1996;15(3):134–8.
Handog EB, Datuin MS, Singzon IA. Chemical peels for acne and acne scars in asians: evidence based review. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):239–46.
Hession MT, Graber EM. Atro- phic acne scarring. A review of treat- ment options. J Clin Aesthet Dermatol. 2015; 8(1):50–8.
Khunger N. Standard guide- lines of care for chemical peels. Indian J Dermatol Venereol Leprol. 2008;74 Suppl S1:5–12.
Landau M. Chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:200– 8.
Lawrence N, Cox SE, Cockerell CJ, et al. A comparison of the efficacy and safety of Jessner’s solution and 35% trichloroacetic acid versus 5% fluoracil in the treatment of wide- spread facial actinic keratosis. Arch Dermatol. 1995;131:176–81.
Lee JB, Chung WG, Kwahck H, Lee KH. Focal treatment of acne scars with trichloroacetic acid:
chemical reconstruction of skin scars method. Dermatol Surg. 2002;28:1017–21.
Levy LL, Emer JJ. Compli- cations of minimally invasive cos- metic procedures: prevention and management. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(2):121–32.
Lupi O, Cunha PR. Rotinas de diagóstico e tratamento da Sociedade Brasileira de Dermatologia. 2a edição. Rio de Janeiro: Editora GEN; 2011.
Monheit GD. Chemical peeling for pigmentary dyschromias. Cosmet Dermatol. 1995;8:10–5.
Monheit GF. Chemical peels. Skin Ther Lett. 2004; 9(2):6–11.
Monheit GD, Kayal JD. Chem- ical peeling. In: Nouri K, Leal-Khouri, editors. Techniques of dermatologic surgery. Elsevier; 2003. p. 233–44. Nikalji N, Godse K, Sakhiya J, Patil S, Nadkarni
N. Complications of medium depth and deep chemical peels. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):254–60.
Patel L, McGrouther D, Chakrabarty K. Evaluating evi- dence for atrophic scarring treatment modalities. J Roy Soc Med Open. 2014;5(9):1–13.
Rendon MI, Berson DS, Co- hen JL, Roberts WE, Starker I, Wang
B. Evidence and considerations in the applica- tion of chemical peels in skin disorders and aesthetic resurfacing. J Clin Aesthet Dermatol. 2010;3(7):32–
43. Rubenstein R, Roenigk HH, Steg- man SJ, Hanke CW. Atypical keloids after dermabrasion of patients taking isotretinoin. J Am Acad Der- matol. 1986;15:280–5.
Rullan P, Karam AM. Chemical peels for darker skin types. Facial Plast Surg Clin North Am. 2010;18(1):111– 31.
Salam A, Dadzie OE, Galadari
H. Chemical peeling in ethnic skin: an update. Br J Dermatol. 2013;169 Sup- pl 3:82–90. Savant SS. Superficial and medium depth chemical peel- ing. In: Savant SS, editor. Text book of derma- tosurgery and cosmetology. 2nd ed. Mumbai: ASCAD-Mumbai,
India; 2005. p. 177–95.
Small R. Aesthetic procedures in office practice. Am Fam Physician. 2009;80(11):1231–7. 1238.
Tosti A, Grimes PE, de Padova MP. Col- or Atlas of chem- ical peeling. Spring- er; 2006.
Tung RC, Rubin MG. Proce- dures in cosmetic dermatology series: chemical peels. 2nd.ed. 2011.
Velasco MVR, Ribeiro ME, Bendin V, Okubo FR, Steiner
D. Facial skin rejuvenation by chemi- cal peeling: focus on phenol peeling. An Bras Dermatol, Rio de Janeiro. 2004;79(1):91–9.
Wolfe SA. Chemical face peel- ing following therapeutic irradiation. Plast Reconstr Surg. 1982;69:859–62.


Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét