LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

 ỨNG DỤNG ĐIỆN PHẪU THUẬT TRONG CÁC THỦ THUẬT THẨM MỸ (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

PHẪU THUẬT BẰNG ĐIỆN MỘT CHIỀU

Một vài bác sĩ da liễu có những thiết bị có thể tạo ra được dòng điện một chiều, phương pháp phẫu thuật bằng dòng điện một chiều này ít khi được áp dụng trong thực hành hàng ngày. Cách này thường được áp dụng trong điện phân, trong thủ thuật này một dòng điện một chiều tần số thấp đi qua mô được đặt nằm giữa 2 điện cực, từ đó gây tổn thương mô thông qua các phản ứng hóa học xảy ra ở đầu mỗi điện cực (Fewkes 1992; Sebben 1988; Sampaio và Piazza 2009). Điện phân thường dùng để phá hủy nang lông (nhổ lông hoặc triệt lông hoàn toàn). Phương pháp này tương đối hiệu quả, ít đau và ít nguy cơ hình thành sẹo, nhưng lại tốn thời gian. Với sự xuất hiện của các thiết bị laser như hiện nay thì phương pháp này ít được chỉ định hơn và chỉ sử dụng khi muốn cắt bỏ nang lông (Shaw 1988).

DAO ĐỐT ĐIỆN

Dao đốt điện sử dụng một điện cực tỏa nhiệt nhưng không truyền dòng điện sang mô. Tuy nhiên, đây là một kĩ thuật cũ và hiện không còn được sử dụng (Sampaio và Piazza 2009). Phương pháp sấy điện có thể đạt được kết quả tương tự như dao đốt điện nhưng dao đốt điện lại gây tổn thương mô nhiều hơn và vết thương chậm lành hơn. Những thiết bị dùng dòng điện tần số cao đã thay thế hầu hết dao điện (Blankenship 1979; Seb- ben 1988).

ĐIỆN CỰC MỔ

Có nhiều loại điện cực mổ với kiểu dáng, hình dạng, kích thước khác nhau trên thị trường và được bán ở dạng đã khử trùng hoặc chưa. Việc lựa chọn điện cực mổ tùy thuộc vào dạng sóng và chẩn đoán thương tổn. Đáp ứng của mô với điện cực mổ cũng rất khác nhau tùy thuộc vào loại điện cực mổ được sử dụng. Điện cực mổ càng lớn thì nhiệt quanh điện cực được tạo ra càng nhiều và năng lượng cần thiết phải được điều chỉnh càng cao. Với điện cực nhỏ hơn, thì nhiệt tạo ra xung quanh sẽ thấp hơn và cần điều chỉnh mức năng lượng thấp hơn (Sebben 1988; Taheri 2013).

Hình 1: Các loại điện cực

Phân loại điện cực mổ

  • Điện cực kim nhỏ
  • Điện cực vòng thép với các kích cỡ khác nhau
  • Điện cực dạng quả cầu. Điện cực kim đốt-sấy Điện cực dây thép Điện cực dạng lưỡi dao
  • Điện cực vòng kim cương Điện cực e líp
  • Điện cực tam giác Kim nhổ lông Forcep song cực
  • Điện cực cắt chất nền
  • Điện cực có thể cứng hoặc có thể uốn cong. Điện cực sẽ trở nên kém hiệu quả nếu các mảnh mô bị than hóa bám trên bề mặt vì sẽ làm giảm sự dẫn truyền dòng điện phẫu thuật vào mô nên đòi hỏi phải cài đặt mức năng lượng cao hơn. Do đó, cần phải giữ cho mũi điện cực sạch sẽ trong suốt quá trình tiến hành phẫu thuật.
Những yếu tố làm giảm tổn thương nhiệt đối với vùng mô xung quanh:
  • Đường kính điện cực nhỏ hơn
  • Rút ngắn thời gian tiếp xúc giữa điện cực và tổn thương
  • Mật độ năng lượng thấp hơn Dùng dòng điện có tần số cao hơn Cắt dạng sóng

THỦ THUẬT PHẪU THUẬT ĐIỆN

Hiện nay có rất nhiều thiết bị phẫu thuật điện và mỗi loại cung cấp rất nhiều dạng sóng khác nhau bất kì máy nào trong những loại máy này đều có thể được sử dụng. Chúng tôi sử dụng thiết bị tần số vô tuyến Wave- tronic 500 Digital (hình 2) (Loktal Medical Electronics, Brazil).
Vì phẫu thuật điện hầu như sẽ gây đau, nên cần phải gây tê cho bệnh nhân khi phẫu thuật. Có thể gây tê bằng kem bôi (2.5% lidocaine + 2.5% kem prilocaine), tiêm tê tại chỗ, hoặc gây tê troncular (2% lidocaine có hoặc không thêm vào epinephrine). Tuy nhiên, chúng tôi không khuyến cáo bôi tê vì bệnh nhân cần phải rất thỏa mái và yên lặng trong quá trình tiến hành thủ thuật. Trước khi gây tê, tổn thương và phần da quanh tổn thương phải được làm sạch bằng povidone-iodine hoặc dung dịch chlorhexidine (không bao giờ được sử dụng dung môi cồn do nguy cơ gây cháy). Phẫu thuật điện nên được tiến hành khi bệnh nhân ở tư thế ngồi hoặc nằm thỏa mái trên bàn mổ, bộc lộ tổn thương và đủ ánh sáng (Weber 2000). Nên giữ cho điện cực sạch và không bị dính mô từ vết thương.

Cần phải chăm sóc vết thương sau mổ theo đúng chuẩn phối hợp với đắp gạc để gây bán bít tắt. Cần lưu ý với bệnh nhân nguy cơ chảy máu kéo dài và khẳng định lại với bệnh nhân là chảy máu có thể được kiểm soát từ 10-30 phút nếu đè ép lên liên tục lên vết thương. Cần phải giải thích cho bệnh nhân rằng có thể vết thương sẽ để lại sẹo, nhưng thường là sẹo rất nhỏ. Tính thẩm mỹ của phương pháp này thường rất tốt (Fewkes 1992).

Hình 2: Thiết bị tần số vô tuyến được sản xuất ở Brazil (Wavetronic 500 Digital; Loktal Medical Electronics)

Hình 3: Thiết bị HF Megapulse Fraxx (Wavetronic 500 Digital) là một công nghệ mới giúp kiểm soát tác dụng nhiệt của tần số vô tuyến thông qua hệ thống năng lượng phân đoạn điện phức tạp.

Gần đây, hãng Loktal Medical Electronics đã phát triển thiết bị HF Megapulse Fraxx (hình 3), thiết bị này có công nghệ mới giúp kiểm soát hiệu quả nhiệt của sóng vô tuyến thông qua hệ thống năng lượng phân đoạn điện phức tạp, thiết bị này được sử dụng với Wavetronic 5000 Digital cho phép đạt được độ chính xác và tinh lọc như laser CO2 vi điểm. Kiểm soát phân bố giúp đảm bảo tất cả các vi điểm không được tiếp năng lượng đồng thời, theo cách liên tiếp ngẫu nhiên giới hạn trước, và bắn liên tục thông qua những ống kim 8 mm. Hai kim gần nhau
không bắn liên tục, tránh gây thêm tác dụng nhiệt phụ: thiết bị cho phép lựa chọn thời gian hoạt động và thời gian nghỉ giữa các kim. Với 60% năng lượng thời gian hoạt động 60ms, thời gian nghỉ 60 ms, và một sóng cắt, chúng tôi có thể đạt được kết quả tương tự laser CO2 xâm lấn vi điểm với tác dụng phụ do nhiệt tối thiểu và không có có tác dụng đốt tập trung đối với lớp bì lưới trên (Casabona 2014).

Kĩ thuật áp dụng: đối với những người có phân loại da tối màu, chúng ta nên sử dụng chất ức chế sắc tố và tránh ánh sáng mặt trời. Nếu bệnh nhân có tiền sử nhiễm herpes ở mặt thì dự phòng bằng famciclovir 125 mg, mỗi 12 giờ trong 5 ngày trước thủ thuật. Điều quan trọng nhất cần phải lưu ý là quá trình gây tê cho bệnh nhân vì phương pháp đốt nhiệt gây đau ở một vài bệnh nhân do đó phải làm dịu cơn đau đến khi bệnh nhân cảm thấy thỏa mái . Dùng thuốc giảm đau đường uống có thể hữu ích như ketorolac trometamol 10mg ngậm dưới lưỡi trong 10 phút trước khi tiến hành thủ thuật hoặc những phương pháp tại chỗ như đắp gặc lạnh, đĩa lạnh…, tiêm lidocaine 2% có chứa epinephrine hoặc tiêm dung dịch phối hợp gồm 30ml saline + 10 ml lidocaine 2% + 0.4 ml epinephrine + 1 ml sodium bicar- bonate 8.4%.
Một khía cạnh chủ chốt khác là giữ ẩm vùng điều trị bằng dung dịch saline nhưng tránh gây quá ẩm ướt. Mục đích là làm tăng khả năng dẫn truyền điện và giúp nhiệt xâm nhập sâu và đồng nhất hơn.

Để tránh bỏ sót vùng da không được điều trị giữa các xung bắn cần phải “khớp nối” các xung, xung sau nên bắn ở vị trí cách bờ bên bút của xung trước đó một vài mm. Độ sâu phụ thuộc chủ yếu vào thời gian hoạt động của dòng điện. Mật độ xung (số pass) bắn liên tục sẽ quyết định đến hiệu quả nhiệt

Chú ý: có thể xuất hiện các điểm loét rất nhỏ ở vùng da mỏng (mí mắt) nếu đầu thiết bị bắn nhiều hơn 3 lần.

Sau phẫu thuật, nếu xuất hiện hồng ban và phù nề không thấy rõ (thường kéo dài trung bình 3 ngày) có thể đắp gạc thấm dung dịch saline lạnh, nước ấm, hoặc dùng thuốc mỡ giúp phục hồi hàng rào da.

Thói quen khá phổ biến là cào gãi hoặc các thao tác sau phẫu thuật có thể kéo dài thời gian phục hồi và để lại di chứng trên bề mặt (nên đưa bản hướng dẫn cụ thể cho bệnh nhân).

Về biến chứng, tăng sắc tố sau viêm xuất hiện khá phổ biến đối với những người có phân loại da tối màu và đa số biến chứng này chỉ mang tính tạm thời. Thiết bị HF Megapulse Fraxx đã được sử dụng để điều trị vết rạn da, sẹo trứng cá, tái tạo bề mặt da, và làm săn chắc da không xâm lấn để cải thiện tình trạng xệ da và giảm nếp nhăn (Casabona 2014).

Casabone (2014) đã chứng minh tác dụng nhiệt của sóng vô tuyến xâm lấn vi điểm ở trên 20 phụ nữ bị sụp mí mắt. Phẫu thuật được tiến hành sau khi tiêm tê tại chỗ với 3 lần (pass) mỗi đợt điều trị. Trước khi da được làm ẩm với dung dịch saline vô khu- ẩn, thiết bị được sử dụng là Wavetron- ic 5000 nối với HF Megapulse Fraxx. Đây là mạch điện cung cấp năng lượng phân đoạn nối với một bút chứa 64 vi kim với độ dày 0.2 mm và 0.8 mm được chia thành 8 cột, mỗi cột chứa 8 kim. Các thông số thiết bị gồm năng lượng 60% và chế độ cắt. Bút bắn tiếp xúc vuông góc với da, vùng trùng lấp là 2 mm. Hệ thống megapulse cho phép đo được thời gian da tiếp xúc với nhiệt từ 8 cây kim bằng đơn vi ms, trong trường hợp này được đặt tên là sequence 2; thông số này được thực hiện bằng cách chọn nút P sau đó chọn nút E trên thiết bị. Năng lượng phóng ra là ngẫu nhiên ở các cột theo một chuỗi được cài đặt sẵn cho phép làm lạnh giữa các đợt bắn và kết quả là ít gây tổn thương nhiệt hơn (Casabona 2014).

Lima gần đây đã phát triển các điện cực kim 2 và 8 làm bằng tungsten (wolfram) với đường kính 200/1000 mm, cân nặng và độ dài giống nhau được sắp xếp song song để đạt được cùng một độ sâu là 1.5 mm. Những cây kim này tác động lên thượng bì và lớp bì, kích thích sự co rút và tái tạo col- lagen mới. Kỹ thuật này đã được sử dụng trong điều trị rất nhiều bệnh lí về da khác nhau bao gồm nếp nhăn, to lỗ chân lông, sẹo teo và sẹo phì đại, săn chắc da, trẻ hóa da, vết rạn da, nám má, hoặc những rối loạn sắc tố khác (Lima và Martins 2010).

THAM KHẢO
Bezerra SMC, Jardim MML (2013). Electrosurgery. In: Tosti A, Hex- sel D, editors. Update in cosmetic der- ma- tology. New York: Springer. Chap- ter 11.
Bezerra SMCB, Lima EA, Jardim MML. Eletrocirurgia. In: Kadunc B, Pal- ermo E, Addor F, Metsavaht L, Rabello L, Matos R, et al., editors. Tratado de Ciru- rgia Dermatologica, Cosmiatria e Laser da SociedadeB- rasileira de Dermatolo- gia. Elsevier R de JC (2013);47. Bennett RG, KraffertCA. Bacterial transference during electrodesiccation and elec- trocoagulation. Arch Der- matol.1990 Jun;126(6):751–5. http://www.ncbi. nlm nih.gov/ pubmed/2346319.
Accessed 27 Nov 2016.
Blankenship ML. Physical mo- dalities: electrosurgery, elec- trocau- tery and electrolysis. Int J Dermatol. 1979;18(6): 443–52.
Bougthon RS, Spencer SK, Ha- nover. Electrosurgical fun- damentals. J Am Acad Dermatol. 1987;16:862–7.
Casabona G, Presti C, Manzini M, Mach- ado Filho CD. Radiofrequenciaabla- tivafracionada: um estudo-piloto com
20 casos para rejuvenescimento da pálpebra inferior. Surgic Cosmet Der- matol. 2014;6(1):1–8.
Chiarello SE. Radiovaporiza- tion: radiofrequency cutting current to vaporize and sculpt skin lesions. Der- matol Surg. 2003;29:755–8.
Fewkes JL, Cheney ML, Pollack SV (1992) Electrosur- gery. In: Illus- trated atlas of cutaneous surgery. Phi- la- delphia: J. B Lippincott. Chapter 9. Goodman MM. Principles of electrosur- gery. In: Wheeland RG, editor. Cutane- ous surgery. Philadelphia:
W.B. Saunders Company; 1994.
p. 206–19.
Hainer BL. Electrosurgery for cutaneous lesions. Am Fam Physician. 2002;66(7):1259–66.
Lima EA, Martins S. Pequeno- sprocedimentosemcon- sultório. In: Santos OLR. Rotinas de diagnóstico e tratamento da SociedadeBrasileira de Dermatologia, chapter 61. AC Farma- ceutica. 2010; pp. 378–384.
Matzle TJ, Christenson LJ, Aata- nashova N, et al. Pace- makers and implantable cardiac defibrillators in derma- tologic surgery. Dermatol Surg. 2006;32:1155–62.

Pollack SV. Electrosurgery of the skin. New York: Chur- chill Livingstone; 1991.
Pollack SV. The history of elec- trosurgery. Dermatol Surg.
2000;26:904–8.
Pollack SV. In: Bolognia JL, Joriz- zo JL, Rapini RP. Dermatologia 2a. Ed. Rio de Janeiro: Elsevier; 2011.
Popkin GL. Electrosurgery. In: Epstein E, Epstein Jr E, editors. Skin surgery. Philadelphia: W.B. Saunders; 1987. pp 164–183.
Sampaio SAP, Piazza CD. Eletro- cirurgiaconvencional e Eletroncirurg- ia. In: Gadelha ar, Costa IMC. Cirurgia- DermatológicaemConsultório. São Paulo: Ed. Atheneu; 2009. pp. 339–347.
Sebben JE. Electrosurgery prin- ciples: cutting current and cutaneous surgery – part I. Dermatol Surg Oncol. 1988;14(2):147–50.
Sebben JE. Electrosurgery. In: Ratz JL, editor. Textbook of dermato- logic surgery. Berlin: Lippincott-Raven Pub- lishers; 1998. p. 457–73.
Sebben JE. Electrosurgery prin- ciples: cutting current and cutaneous surgery – part II. Dermatol Surg. 2000; 26(2):142–5.
Sebben JE, Davis. The status of electrosurgery in dermatologic prac- tice. J Am Acad Dermatol. 1988;19: 542–9.
Shaw DH, Kalkwarf KL, Krejci RF, et al. Self-sterilization of the electro- surgery electrode. J Am Acad Dermatol. 1988;19(3):542–9.
Taheri A, Mansoori P, Sandoval LF, Feldman SR, Pearce D, Williford P. Electrosurgery: part I. Basics and
principles. J Am Acad Dermatol 2014;70(4):591. e1-14.
Weber PJ, Moody BR, Foster JA. Electrosurgical suspen- sion appara- tus. Dermatol Surg. 2000;26:142–5.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét