LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

 ỨNG DỤNG ĐIỆN PHẪU THUẬT TRONG CÁC THỦ THUẬT THẨM MỸ (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

TÓM TẮT

Phẫu thuật điện là một thuật ngũ dùng để mô tả những phương pháp trong đó điện được dùng để phẫu thuật. Ứng dụng lâm sàng của phẫu thuật điện là dùng để rạch vết thương, cắt, đốt hoặc cầm máu. Chương này sẽ đưa ra những giải thích chi tiết về nguyên lí cơ bản của phẫu thuật điện như kĩ thuật, tác dụng phụ, và những biến chứng của nó như bỏng, nguy cơ phơi nhiễm, làm hỏng máy tạo nhịp tim, tạo khói phẫu thuật.

NỘI DUNG

  • Giới thiệu
  • Cơ chế hoạt động
  • Lịch sử
  • Phương thức phẫu thuật điện
  • Ứng dụng lâm sàng của phẫu thuật điện
  • Sấy điện
  • Đông điện
  • Đốt bằng tia điện
  • Cắt điện
  • Phẫu thuật bằng điện một chiều
  • Dao đốt điện
  • Điện cực mổ
  • Thủ thuật phẫu thuật điện
  • Ứng dụng lâm sàng
  • U vàng (hình 4) Mụn thịt (hình 5)
  • U nang nước (hình 6)
  • Dày sừng tuyến bã (hình 7) U hạt sinh mủ (hình 8)
  • U mềm treo (skin tags) (hình 9)
  • Bệnh mũi sư tử (rhinophyma) (hình 10)
  • Nevus sùi
  • U tuyến mồ hôi
  • Sẹo trứng cá, nếp nhăn, xệ da (hình 11)
  • Nguy cơ Bỏng Tạo kênh
  • Nguy cơ cháy Plume
  • Máy tại nhịp tim
  • Vô trùng
  • Ưu điểm
  • Nhược điểm
  • Chăm sóc sau phẫu thuật
  • Tác dụng không mong muốn
  • Biến chứng
  • Ghi nhớ
  • Tham khảo

GIỚI THIỆU

Phẫu thuật điện là thuật ngữ dùng để mô tả những phương pháp mà có sử dụng dòng điện trong phẫu thuật (Bezerra và Jardim 2013; Bezer- ra 2013; Fewkes 1992). Trong thủ thuật này, năng lượng sinh ra từ dòng điện được dùng để phá hủy hoặc cắt bỏ mô cơ thể. Những dòng điện này có thể được tạo ra từ bộ phóng điện, ống vô tuyến, hoặc dụng cụ phẫu thuật điện dùng pin (Popkin 1987).

Những bác sĩ da liễu đã sử dụng phẫu thuật điện trong hơn 80 năm. Tuy nhiên, mặc dù nhiều bác sĩ đã sử dụng phương pháp này, nhiều người vẫn ít công nhận những lợi ích của nó. Ưu điểm của phương pháp này là tốn ít thời gian, phù hợp sử dụng trong phòng khám và trên thực hành lâm sàng da liễu, đòi hỏi ít dụng cụ, và khả năng dung nạp của bệnh nhân cao. Khi sử dụng phương pháp này ở những bệnh nhân có chỉ định hợp lí, thì có thể mang lại kết quả có tính thẩm mỹ trong khoảng từ chấp nhận được đến rất tốt đối với cả tổn thương lành tính lẫn ác tính. Trải qua nhiều năm, những thiết bị được sử dụng trong điều trị điện ngày càng trở nên phức tạp (Popkin 1987; Chiarello 2003).

CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG

Để sử dụng thiết bị phẫu thuật điện, bác sĩ nên hiểu về cách thức hoạt động của thiết bị đó. mạch điện của tất cả những thiết bị điện thường có chung một vài đặc điểm thiết kế cần thiết để tạo ra được dòng điện đầu ra (output) phù hợp với phẫu thuật điện. Đầu tiên, dòng điện dân dụng sẽ đi qua một máy biến áp và thay đổi hiệu điện thế (tính bằng volt) thành mức hiệu điện thế phù hợp với mạch điện của thiết bị. Cuối cùng, dòng điện sẽ được truyền đến điện cực điều trị (Chiarello 2013). Dòng điện được áp dụng điều trị có thể là một đầu ra hoặc hai đầu ra. Trong phẫu thuật điện một đầu ra, một điện cực phân tán lớn (tấm nối đất) nối với thiết bị được kê dưới bệnh nhân và thiết bị kết nối với bệnh nhân bằng một kim điện cực điều trị. Do đó bệnh nhân trở thành 1 phần của mạch điện. Đối với phẫu thuật điện một đầu ra, bệnh nhân không phải là một phần của mạch điện, và không cần phải kết nối thiết bị với mặt đất (Blankenship 1979).

Tất cả máy mổ điện được cấu tạo gồm một tay cầm kết nối với điện cực hoạt động, một tấm điện cực phân tán (tấm nối đất), và một máy biến áp. Sóng vô tuyến được tạo ra đi qua điện cực vào tổn thương, và trở lại máy mổ điện thông qua tấm nối đất (Fewkes)

LỊCH SỬ

Trong nhiều thế kỉ trước các bác sĩ đã sử dụng nhiệt để phá hủy mô. Đốt nhiệt đã từng được sử dụng bởi người Ai cập và người Hi Lạp cổ để điều trị khối u và áp xe, cũng như để cầm máu (Fewkes 1992). Tuy nhiên, việc sử dụng điện để sản sinh ra nhiệt để phá hủy đã chưa xuất hiện cho đến giữa thế kỉ XIX khi mà dòng điện vật lí đã được phát triển và đưa vào ứng dụng. Claude Paquelin phát triển phương pháp đốt điện vào năm 1975; phương pháp mới này giống với phương pháp đốt nhiệt cổ xưa (trong phương pháp mới này, một đầu dẫn nhiệt tiếp xúc trực tiếp để truyền nhiệt và đốt mô nhưng không có dòng điện chạy qua) chỉ khác là nhiệt tạo ra từ dòng điện mà thôi (Fewkes 1992; Seb- ben 1988). Tuy nhiên, sự bắt đầu thực sự của phẫu thuật điện là khi phát hiện và phát triển dòng điện xoay chiều cao tần. Vào năm 1891, Jacques Arsene d’Arsonval đã phát triển mạch điện cần thiết để tạo ra dòng điện cao tầng. Ông nhận thấy rằng dòng điện cao tần trên 10,000 vòng/giây (10,000 hertz) có thể đi qua cơ thể mà không gây đau đớn, co cơ hay gây hại gì cho cơ thể con người (Bezerra và Jardim 2013; Bezerra 2013; Fewkes 1992; Chiarello; Matzle 2006; Pollack 2000; Sebben 2000).

Vào năm 1893, Oudin đã thiết kế ra một mạch cộng hưởng có sự cân bằng giữa điện trở điện dung và điện trở điện cảm; đều này cho phép dòng điện lớn tối đa đi qua với điện trở mạch tối thiểu. Oudin đã sử dụng máy tạo khoảng cộng hưởng (resonat- ed gap generator) để phá hủy nhiều tổn thương da khác nhau. Năm 1908, Walker de Keating- Hart đã thấy rằng dòng điện cao tầng có thể phát ra từ điện cực vào mô theo một vết dài như tia sét (tia điện). Ông đã dùng tia điện này để phá hủy ung thư da, từ đó phát triển phương pháp đốt bằng tia điện.

Năm 1911, William Clark đã sử dụng dòng điện có điện thế cao và cường độ thấp để phá hủy mô đơn cực. Một dòng điện được áp trực tiếp vào mô để làm khô tại vùng dòng điện tiếp xúc. Clack gọi phương pháp này là sấy điện (Fewkes 1992; Sebben 1988; Matzle 2006; Pollack 2000). Vào năm 1908, Doyen được cho là người đầu tiên phát triển phương pháp đưa dòng điện có hiệu điện thế thấp hơn, và năng lượng cao hơn vào bệnh nhân bằng cách đặt một tấm điện cực phía dưới bệnh nhân. Năm 1926, William Bovie, một nhà vật lí đã phối hợp với Harvey Cushing là một bác sĩ phẫu thuật để phát triển thiết bị phẫu thuật điện tần số cao; thiết bị này cho dòng điện ra có nhiều điện thế khác nhau cũng như các mức độ suy giảm sóng khác nhau. Công cụ này cũng có thể làm đông mạch máu với nhiều kích thước khác nhau (có hoặc không có cắt mô) và là mẫu đầu tiên của thiết bị mổ điện hiện đại. Sự kiện lớn tiếp theo của sự phát triện điện phẫu thuật là vào năm 1923 khi mà Dr. George A. Wyeth báo cáo rằng một bác sĩ phẫu thuật u đã dùng điện phẫu thuật để cắt mô (Matzle 2006; Pollack 2000). Vào năm 1932, tập đoàn Birtcher đã thương mại thiết bị spark gap-based HyfrecatorTM, thiết bị này sau đó đã trở nên rất phổ biến cho các phương pháp điều trị đông máu điện, sấy điện, đốt bằng tia điện bằng một đầu ra hay hai đầu ra được đặt ở các phòng khám.

Có 4 dạng sóng khác nhau trong điện phẫu thuật:
  • Được lọc toàn bộ (sóng không suy giảm), ví dụ: cắt (cắt điện): phù hợp để cắt và cầm máu tối thiểu.
  • Hoàn toàn được chỉnh lưu (sóng suy giảm nhẹ), ví dụ: cắt và cầm máu (cắt điện và đông điện): phù hợp để cắt và đông máu mô đồng thời.
  • Được chỉnh lưu một phần (sóng suy giảm vừa), ví dụ: đông máu: phù hợp để cầm máu động mạch đang chảy.
  • Sóng spark gap (sóng suy giảm hấp thụ vào mô và gây ra tổn thương nhiệt kèm ít carbon hóa hơn so với đốt nhiều), ví dụ, làm khô: phù hợp để sấy khô (Chiarello 2003).

ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA PHẪU THUẬT ĐIỆN (BẢNG 1)

Ứng dụng lâm sàng cụ thể của các phương pháp phẫu thuật điện phụ thuộc vào sự ưa thích và kinh nghiệm của phẫu thuật viên; điện phẫu thuật có thể được sử dụng trong kĩ thuật rạch mô và được ứng dụng trong cắt bỏ toàn bộ bề dày của bớt, kĩ thuật cạo nhằm loại bỏ những tổn thương nông, và trong cắt bỏ tổn thương mạch máu như u máu và u hạt sinh mủ (Pollack 1991).

Bảng 1
  • Tổn thương lành tính: bớt, tăng sản tuyến bã, bệnh mũi sư tử, u mềm treo (skin tags), u mạch, u xơ mạch, u xơ bì, sẩn xơ, u gai sừng, dày sừng tuyến bã, u tuyến mồ hôi, hồ tĩnh mạch, mụn cóc.
  • Tổn thương tiền ung thư: dày sừng ánh sáng.
  • Tổn thương ác tính: ung thư tế bào đáy (tổn thương nguyên phát, kích thước nhỏ, nông, giới hạn rõ và ở vùng ít nguy cơ).
  • Tổn thương thẩm mỹ: nếp nhăn và xệ da.

SẤY ĐIỆN

Sấy điện là phương pháp phố biến được sử dụng hầu hết bởi các bác sĩ da liễu và là phương pháp trong đó một điện cực tần số cao một đầu ra được đặt tiếp xúc với mô và bắn ra một tia điện nhỏ, tia điện này được điện (Fewkes 1992; Chiarello 2003; Sebben 1988).

Sấy điện được sử dụng đối với những tổn thương nông như những tổn thương chỉ liên quan đến thượng bì. Điện cực điều trị tiếp xúc với mô để gây mất nước và kết tủa protein. Trong phẫu thuật điện phá hủy mô bằng sấy điện, nếu sử dụng dòng điện có cường độ tối thiểu thì hầu hết các tổn thương nằm ở lớp thượng bì và do đó ít có nguy cơ để lại sẹo. Tuy nhiên nếu sử dụng ở cường độ mạnh thì có thể gây kết tủa những mô ở sâu và có khả năng để lại sẹo cao. Nhìn chung, đôi khi phải phối hợp sấy điện với đốt điện vì điện cực điều trị không phải lúc nò cũng hoàn toàn tiếp xúc với mô.

Nếu điện cực được giữ cách mô một khoảng nhỏ, tia điện được hình thành giữa điện cực và mô- kĩ thuật này được gọi là đốt điện và chỉ gây phá hủy rất nông trên bề mặt vì quá trình than hóa bề mặt giúp cách điện cho lớp mô phía dưới (Chiarello 2003; Bougthon 1987). Đây là phương pháp được lựa chọn khi chỉ muốn phá hủy các tổn thương ở bề mặt nông của da như dày sừng ánh sáng, dày sừng tuyến bã, u mạch nhện, u mạch cher- ry, u mạch dày sừng, u mềm treo (skin tags), u tuyến mồ hôi, mụn cóc phẳng, sùi mào gà, hoặc bớt thượng bì nhỏ. Đồng thời phương pháp này cũng có thể giúp cầm máu với những mạch máu nhỏ. Kỹ thuật chuẩn dùng để điều trị các bệnh lí dày sừng bằng phương pháp này là di chuyển điện cực chậm trên bề mặt của tổn thương (đối với tổn thương nhỏ) hoặc chèn trực tiếp vào trong tổn thương (đối với những tổn thương lớn) với dòng điện có cường độ thấp . Sau một vài giây, tổn thương sẽ nổi bong bóng do thượng bì bị tách ra khỏi lớp bì, sau đó lớp này được loại bỏ một cách dễ dàng bằng curette hoặc đơn giản bằng cách lấy gạc chùi đi. Điểm cuối lâm sàng trong điều trị các tổn thương thượng bì là xuất hiện các chấm xuất huyết, sau đó có thể cầm máu bằng chèn ép, đông điện, hoặc bôi chất cầm máu tại chỗ như aluminum chloride. Nếu máu chảy nhiều hơn chứng tỏ có thể lớp bì đã bị tổn thương, và nguy cơ để lại sẹo sẽ cao hơn. Với những tổn thương nhỏ và rất nông khi điều trị với đốt điện chỉ gây tổn thương tối thiểu những mô xung quanh (Chiarello 2003).

Đông điện

Đông điện điện là quá trình trong đó sử dụng một điện cực mổ tần số cao có 2 đầu ra đặt lên hoặc đặt gần mô từ đó dòng điện sẽ được truyền qua mô và gây đông nhiệt mô (Fewkes 1992).

Phương pháp này được dùng để phá hủy các mô nằm ở sâu và kích thước lớn và để cầm máu phẫu thuật (kẹp điểm máu chảy hoặc mạch máu). Một dòng điện suy giảm trung bình được gắn vào một dụng cụ 2 đầu ra (vd: cả điện cực tập trung và phân tán đều được sử dụng). Dòng điện nay có cường độ cao hơn và hiệu điện thế thấp hơn dùng cho mục đích cuối cùng để sấy điện (Chiarello 2003; Sebben 1988). Điện cực được đặt trực tiếp lên mô được điều trị di chuyển chậm ngang qua tổn thương, tổn thương sau đó sẽ bị đốt thành than.
Sau đó sử dụng curette để cạo lớp mô bị than hóa đi.

Đông điện được sử dụng chủ yếu để cầm máu các mạch máu lớn. Phương pháp này được chỉ định để điều trị mụn cóc, giãn mạch nông, lông lạc chỗ, u hạt sinh mủ, móng quặp, u tuyến mồ hôi, u vàng, u mạch nhỏ, u nang nhầy, u mạch ruby, tăng sản tuyến bã, dày sừng tuyến bã, epitheli- oma nang lông, và ung thư tế bào đáy nguyên phát nhỏ chưa có biến chứng ở những vùng đặc biệt. Để điều trị ung thư, nên lặp lại thủ thuật thêm 2 lần để loại bỏ bất kì những khối u nhỏ lan rộng nào. Sau khi đông điện, sử dụng một curette nhỏ để cạo bỏ những gốc nhỏ của khối u. Sau điều trị thường sẽ để lại sẹo do đó phải thảo luận trước với bệnh nhân về vấn đề này (Popkin 1987; Chiarello 2003).

Phẫu thuật viên nên lưu ý việc sử dụng đông điện để cầm máu phẫu thuật nên áp dụng đối với điện phẫu thuật khô vì dòng điện sẽ được truyền qua máu vào vùng mô rộng hơn và hiệu quả cầm máu sẽ bị giảm và ngăn chặn do dòng điện bị phân tán. Nên tránh hết sức việc sử dụng dòng điện ra cường độ mạnh vì gây đông và car- bon hóa vùng mô lớn, làm mục mô và biến chứng chảy máu sau đó. Một thiết bị thay thế khác trong đông điện là forceps 2 đầu ra; cả 2 cực của for- ceps 2 đầu ra là những điện cực hoạt động luân phiên. Mô được kẹp giữa 2 điện cực hoặt động sẽ nhận được dòng điện cao, có sức tập trung. Một cách sử dụng khác là dùng clamp hoặc forceps để giữ mạch máu sau đó dùng điện cực tiếp xúc trực tiếp với 2 dụng cụ này.

Kĩ thuật này không hữu ích nhiều trong trường hợp các thiết bị có một đầu ra do dòng điện chậm và phân tán quá nhiều không đủ để tạo ra lượng nhiệt cần thiết để cầm mạch máu. Tuy nhiên, do khả năng xâm nhập và phá hủy sâu, đông điện có thể để lại những tổn thương không mong muốn và hoại tử mô sâu cạnh tổn thương, do đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương và chức năng của dây thần kinh (Pollack 1991).

Đốt điện

Đốt điện là một thủ thuật trong đó một điện cực phẫu thuật điện tần số cao một đầu ra được giữ ở vị trí cách bề mặt mô một khoảng 3-4 mm, sau đó phóng ra một tia điện qua khoảng không vào mô gây tổn thương và than hóa mô.

Sự khác nhau giữa đốt điện và sấy điện chủ yếu là vị trí đặt điện cực. Lợi ích của đốt điện là cung cấp đủ năng lượng để cầm máu nhưng không gây tổn thương mô nhiều như khi tiếp xúc trực tiếp với mô trong sấy điện và để lại ít sẹo hơn so với phương pháp sấy điện. Máy phát điện cường độ cao được sử dụng để đông điện không tạo ra đủ điện thế để tải một dòng điện trong đốt điện Một vài đơn vị được thêm vào một cuộn thứ cấp vào mạch điện để tăng hiệu điện thế đến mức đủ cao để phóng ra được dòng điện qua khoảng không. Những tổn thương da khi được điều trị bằng kĩ thật này có thời gian lành nhanh hơn vì tổn thương nhiệt ít hơn.

Một lỗi thường gặp khi dùng đốt điện là bật máy mổ điện ở chế độ quá mạnh đến nỗi tạo ra một tia điện thấy rõ qua khoảng không. Nếu dòng điện quá lớn thì có thể gây tổn thương mô quá mức và than hóa mô. Đốt điện không có lợi nếu ở chế độ năng lượng cao. Chỉ định cơ bản để sử dụng dòng điện là tăng sắc tố ánh sáng, dày sừng ánh sáng, dày sừng tuyến bã, và peel (Pollack 1991).

Cắt điện

Cắt điện là một thủ thuật sử dụng một điện cực 2 đầu ra có dòng điện mạnh, tần số cao để truyền dòng điện qua mô và cắt chúng; phương pháp này được ứng dụng dể rạch, chia và tách mô (Fewkes 1992). Trong cắt điện một điện cực 2 đầu ra mang dòng điện giảm dần nhẹ được áp vào mô. Dòng điện có hiệu điện thế thấp và cường độ mạnh sẽ làm lan tỏa nhiệt ra xung quanh, làm tổn thương mô và do đó có thêm lợi ích cầm máu ngoài tác dụng cắt mô. Có thể chỉ cắt đơn thuần mà không cầm máu với dòng điện ống không giảm dần vì dòng điện này không lan tỏa nhiệt ra xung qua và bốc hơi mô mà không giúp cầm máu (Chi- arello 2003). Cắt điện có thể được sử dụng để cắt mô một cách nhanh chóng và không cần dùng lực, hoặc cắt mà không gây chảy máu (Chiarello 2003; Sebben 1988,1998) gần như không cần phải có lực tay khi mổ với phương pháp cắt đện. Mật độ năng lượng tối đa có thể đạt được với dòng điện tối thiểu; giá trị mật độ năng lương tăng khi giảm bán kính cong của điện cực Có thể sử dụng phương pháp cắt điện với nhiều loại điện cực khác nhau, dạng phổ biến nhất là một vòng dây thép nhỏ . Điện cực hình lưỡi hỏi năng lượng cao hơn và diện tích bề mắt lớn hơn của lưỡi dao điện khi tiếp xúc với mô để cắt. Điện cực dạng vòng dây thép cũng gây tổn thương nhiệt lớn hơn so với điện cực dây thép thẳng vì nó đòi hỏi năng lượng điện cao hơn để tạo ra được mật độ năng lượng cắt (Fewkers 1992; Sebben 1998; Sebben và Davis 1988). Sự khác biệt giữa cắt bằng dao điện và dao mổ có thể thấy được ngay khi lần đầu sử dụng dao điện. Ở một chế độ cài đặt năng lượng cần thiết, dao điện đi vào mô một cách dễ dàng như “dao nóng cắt bơ” vậy. Tuy nhiên, cần phải làm ẩm mô trước với gạc ẩm. Nếu có tia điện xuất hiện trong khi cắt mô nghĩa là năng lượng được cài đặt quá cao; nếu dao điện “không bén” nghĩa là năng lượng được cài đặt quá thấp (Chiarello 2003).

Thiết bị tần số vô tuyến được sản xuất ở Brazil (Wavetronic 500 Digital; Loktal Medical Electronics)

Lợi ích chủ yếu của cắt điện so với dao mổ bình thường là khả năng cầm máu ngay khi cắt. Tuy nhiên, với những mạch máu lớn (đường kinh >1 mm) thì cần đòi hỏi thêm đông điện tại điểm chảy máu (Chiarello 2003) và dao điện gây tổn thương mô lớn hơn và thời gian lành chậm hơn. Vết cắt bởi dao điện có thể được khâu lại như ban đầu nhưng cần thời gian dài hơn để đạt lại được sức căng ban đầu của nó. Mức năng lượng quá cao hoặc tốc độ cắt quá chậm có thể gây cầm máu quá mức, gây tổn thương rộng hơn và làm vết thương chậm lành hơn. Nên cắt với tốc độ điều đặn, nhanh nhẹn. Tốc độ tốt nhất là khi có thể tạo ra một đường cắt sạch, không hoặc ít có sự than hóa- mặc dù ở mức than hóa có thể giúp cầm máu tốt hơn nhưng lại làm vùng tổn thương do nhiệt lớn hơn. Tốc độ di chuyển nên ở mức cắt mô vừa phải không làm chín hoặc hóa than mô; tốc độ di chuyển dao điện tốt nhất là từ 5-10 mm mỗi giây (Fewkes 1992; Seb- ben 1988, 1998). Vì một lượng nhỏ mô bị đốt thành than dính vào dao điện và gây cản trở khả năng cắt và cầm máu nên cần phải làm sạch dao điện thường xuyên trong quá trình mổ. Nếu mô bị than hóa quá nhiều thì có thể do năng lượng được chỉnh quá cao hoặc tốc độ cắt quá chậm (Fewkes 1992).

Phẫu thuật điện là rất hữu ích để có thể tạo những đường cắt không chảy máu ở vùng đầu và những tổn thương lớn, hữu ích trong kĩ thuật cạo và rạch, trong điều trị bệnh mũi sư tử, viêm tuyến mồ hôi mũ, một vài loại bớt, trong cắt các khối u lành tính và ác tính, sinh thiết da, phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt, cắt bỏ bớt da đầu, vạt da đầu, nâng da đầu (Fewkes 1992; Pop- kin 1987; Chiarello 2003; Sebben
1988,1998; Weber 2000).

THAM KHẢO
Bezerra SMC, Jardim MML (2013). Electrosurgery. In: Tosti A, Hex- sel D, editors. Update in cosmetic der- ma- tology. New York: Springer. Chap- ter 11.
Bezerra SMCB, Lima EA, Jardim MML. Eletrocirurgia. In: Kadunc B, Pal- ermo E, Addor F, Metsavaht L, Rabello L, Matos R, et al., editors. Tratado de Ciru- rgia Dermatologica, Cosmiatria e Laser da SociedadeB- rasileira de Dermatolo- gia. Elsevier R de JC (2013);47. Bennett RG, KraffertCA. Bacterial transference during electrodesiccation and elec- trocoagulation. Arch Der- matol.1990 Jun;126(6):751–5. http://www.ncbi. nlm nih.gov/ pubmed/2346319.
Accessed 27 Nov 2016.
Blankenship ML. Physical mo- dalities: electrosurgery, elec- trocau- tery and electrolysis. Int J Dermatol. 1979;18(6): 443–52.
Bougthon RS, Spencer SK, Ha- nover. Electrosurgical fun- damentals. J Am Acad Dermatol. 1987;16:862–7.
Casabona G, Presti C, Manzini M, Mach- ado Filho CD. Radiofrequenciaabla- tivafracionada: um estudo-piloto com
20 casos para rejuvenescimento da pálpebra inferior. Surgic Cosmet Der- matol. 2014;6(1):1–8.
Chiarello SE. Radiovaporiza- tion: radiofrequency cutting current to vaporize and sculpt skin lesions. Der- matol Surg. 2003;29:755–8.
Fewkes JL, Cheney ML, Pollack SV (1992) Electrosur- gery. In: Illus- trated atlas of cutaneous surgery. Phi- la- delphia: J. B Lippincott. Chapter 9. Goodman MM. Principles of electrosur- gery. In: Wheeland RG, editor. Cutane- ous surgery. Philadelphia:
W.B. Saunders Company; 1994.
p. 206–19.
Hainer BL. Electrosurgery for cutaneous lesions. Am Fam Physician. 2002;66(7):1259–66.
Lima EA, Martins S. Pequeno- sprocedimentosemcon- sultório. In: Santos OLR. Rotinas de diagnóstico e tratamento da SociedadeBrasileira de Dermatologia, chapter 61. AC Farma- ceutica. 2010; pp. 378–384.
Matzle TJ, Christenson LJ, Aata- nashova N, et al. Pace- makers and implantable cardiac defibrillators in derma- tologic surgery. Dermatol Surg. 2006;32:1155–62.

Pollack SV. Electrosurgery of the skin. New York: Chur- chill Livingstone; 1991.
Pollack SV. The history of elec- trosurgery. Dermatol Surg.
2000;26:904–8.
Pollack SV. In: Bolognia JL, Joriz- zo JL, Rapini RP. Dermatologia 2a. Ed. Rio de Janeiro: Elsevier; 2011.
Popkin GL. Electrosurgery. In: Epstein E, Epstein Jr E, editors. Skin surgery. Philadelphia: W.B. Saunders; 1987. pp 164–183.
Sampaio SAP, Piazza CD. Eletro- cirurgiaconvencional e Eletroncirurg- ia. In: Gadelha ar, Costa IMC. Cirurgia- DermatológicaemConsultório. São Paulo: Ed. Atheneu; 2009. pp. 339–347.
Sebben JE. Electrosurgery prin- ciples: cutting current and cutaneous surgery – part I. Dermatol Surg Oncol. 1988;14(2):147–50.
Sebben JE. Electrosurgery. In: Ratz JL, editor. Textbook of dermato- logic surgery. Berlin: Lippincott-Raven Pub- lishers; 1998. p. 457–73.
Sebben JE. Electrosurgery prin- ciples: cutting current and cutaneous surgery – part II. Dermatol Surg. 2000; 26(2):142–5.
Sebben JE, Davis. The status of electrosurgery in dermatologic prac- tice. J Am Acad Dermatol. 1988;19: 542–9.
Shaw DH, Kalkwarf KL, Krejci RF, et al. Self-sterilization of the electro- surgery electrode. J Am Acad Dermatol. 1988;19(3):542–9.
Taheri A, Mansoori P, Sandoval LF, Feldman SR, Pearce D, Williford P. Electrosurgery: part I. Basics and
principles. J Am Acad Dermatol 2014;70(4):591. e1-14.
Weber PJ, Moody BR, Foster JA. Electrosurgical suspen- sion appara- tus. Dermatol Surg. 2000;26:142–5.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét