ỨNG DỤNG CRYOTHERAPHY TRONG THẨM MỸ (PHẦN 3)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Tổn thương tiền ung thư
Dày sừng ánh sáng AK (xem chương “liệu pháp quang động” vol.1) Những vùng thường bị AK gồm vùng mu bàn tay, cánh nào, và vùng mặt trên. Hình dạng dày sừng ánh sáng cũng rất khác nhau: dạng thông thường, dạng tăng sắc tố và dạng dày da.Nên làm sinh thiết ở những vùng tổn thương dày kèm phát triển nhanh, những tổn thương có các đặc điểm của ung thư tế bào vảy (sừng, chảy máu, đau), AK dạng tăng sắc tố nghi là u sắc tố, và AK đã điều trị thất bại với cryotherapy trước đó hoặc những điều trị tại chỗ khác.
Dày sừng ánh sáng thường được điều trị bằng cryotherapy nhất, với tỉ lệ lành là 97% và tỉ lệ tái phát 2.1% trong vòng 1 năm (Usatine 2015). Thời gian áp lạnh từ 5s đến 10s với vòng đóng băng khoảng 1 mm phụ thuộc vào kích thước và độ dày của tổn thương. Thời gian áp lạnh dài hơn có thể làm giảm sắc tố sau điều trị (Vujewich và Goldberg 2008; Usatine 2015).
Một nghiên cứu ngẫu nhiên và tiến cứu ở châu âu đã so sánh hiệu quả, khả năng chịu đựng và độ an toàn của dung dịch bôi 5-FU liều thấp với cryotherapy ở những bệnh nhân mắc dày sừng ánh sáng độ trung bình/ nặng (6 tuần điều trị với 5-FU một lần mỗi ngày hoặc 1-2 lần điều trị với cryotherapy với khoảng cách giữa các lần điều trị là 3 tuần). Họ đã kết luận rằng 5-FU giúp loại bỏ tổn thương về mô học tốt hơn và tỉ lệ tái phát thấp hơn so với cryotherapy (Simon 2015).
Peel lạnh (cryopeeling) là một điều trị cải biên mà sử dụng áp lạnh không chỉ ở vùng dày sừng ánh sáng mà lên tất cả những vùng da tổn thương do ánh sáng. Đây là một lựa chọn điều trị dễ dàng trong trường hợp dày sừng ánh sáng lan rộng với chi phí thấp và rút ngắn thời gian lành vết thương. Phương pháp này mang lại hiệu quả cao, và giảm đáng kể tỉ lệ ung thư tế bào vảy (Chiarello 2000).
- Viêm môi ánh sáng: viêm môi ánh sáng có thể được điều trị bằng cryotherapy với một cycle trong 5-10s và không cần phải có vòng đóng băng quanh tổn thương. Áp lạnh lần hai có thể được áp dụng nếu lần đầu không đủ để loại bỏ tổn thương (khoảng thời gian giữa 2 lần là 3-4 tuần). Nếu tổn thương không đáp ứng với điều trị thì phải tiến hành sinh thiết để loại trừ ung thư tế bào vảy (SCC).
- Bệnh Bowen: Bệnh bowen được xem là SCC tại chỗ. Có 2 thể phổ biến là thể tăng sừng và thể sinh dục. Luôn cần phải làm sinh thiết để loại trừ khả năng xâm lấn ác tính.
Đối với những tổn thương nhỏ và mỏng, thì phương pháp điều trị thích hợp được lựa chọn là đốt điện và cạo bằng curette. Với những tổn thương nhỏ, nhưng dày hơn thì phẫu thuật cắt bỏ là lựa chọn tối ưu. Ngoài ra cũng có thể cân nhắc sử dụng kem 5-FU 5%, imiquimod 5% và PDT.
Có thể áp dụng kĩ thuật phun lạnh (ngoại trừ ở vùng sinh dục) với một cycle áp lạnh trong 20-30 lần và tạo được vòng đóng băng quanh tổn thương 2 mm. Những tổn thương lớn hơn có thể được chia thành các vòng tròn trùng lấp nhau một phần. Những tổn thương lớn có thể áp dụng kĩ thuật phun lạnh xoắn ốc hoặc phun vẽ (20- 30s).
Tổn thương tăng sừng không đáp ứng tốt với cryotherapy đơn thuần do đó nên phẫu thuật giảm kích thước trước khi tiến hành thủ thuật. Với bệnh Bowen ở vùng sinh dục, khu- yến cáo áp lạnh một cycle trong 15- 20s. Điều trị này thường có thời gian lành vết thương nhanh và cho kết quả tốt về chức năng và thẩm mỹ.
Những tổn thương ở chân mà đặc biệt là ở người lớn tuổi thì quá trình lành sau thủ thuật có thể bị kéo dài do tình trạng ứ đọng tĩnh mạch và áp lạnh tăng cường có thể sẽ dẫn đến loét da.
Khả năng tái phát thường xảy ra nếu áp lạnh không đủ, vì các tế bào bệnh sẽ di cư ngược lại bề mặt (tỉ lệ tái lại từ 5-10% nếu áp lạnh không đầy đủ).
Theo dõi và chăm sóc sau thủ thuật
Có nhiều cách chăm sóc sau thủ thuật tùy thuộc vào loại tổn thương, vị trí và độ sâu khi áp lạnh (Kuflik và Kuflik 2012). Bệnh nhân nên được hướng dẫn về thời gian vết thương sẽ lành, tác dụng phụ, và biến chứng có thể xảy ra như đỏ da, khó chịu, thậm chí là cảm giác đau và nóng rát (Pasquali 2010).Nếu áp lạnh nông trên bề mặt thì không cần phải băng thương tổn; khi áp lạnh sâu cần phải băng tổn thương bằng gặc trong vòng 48h, và kèm thêm bôi kháng sinh. Trong hầu hết các trường hợp, thì chỉ cần rửa với nước và xà phòng là đủ (Kuflik và Kuflik 2012; Pasqualli 2013). Trong trường hợp ác tính, tổn thương xuất tiết nhiều và giảm dần khi vết thương lành.
Nên thường xuyên rửa vết thương (3-4 lần/ ngày) trong giai đoạn xuất tiết nhiều dịch và số lần rửa ít hơn trong giai đoạn tạo hạt. Sau cryotherapy sẽ có sự xuất hiện bọng nước tại vùng tổn thương, và đây không phải là biến chứng của thủ thuật (Kuflik và Kuflik 2012), bọng nước này có thể được hút hoặc không (Pasqualli 2013). Sự xuất tiết dịch có thể kéo dài từ vài ngày cho đến 10-15 ngày sau thủ thuật. Nếu tổn thương đóng mài (hình 4), lột bỏ lớp mài sẽ làm tăng tốc độ lạnh (đối với mài của tổn thương mạch máu thì không nên lột).
Với những tổn thương ở chân và tai, và những trường hợp nhiễm trùng thứ cấp thấy rõ trên lâm sàng (ít khi xảy ra), một vài tác giả khuyến cáo sử dụng kháng sinh đường uống (Kuf- lik và Kuflik 2012).
Cần theo dõi sớm và lâu dài một cách thích hợp sau khi làm thủ thuật để kiểm tra vết thương, giải quyết những biến chứng có thể và lặp lại điều trị tại chỗ hoặc tổn thương khác khi cần thiết và trong trường hợp tổn thương tái phát (Usatine 2015).
TÁC DỤNG PHỤ VÀ BIẾN CHỨNG
Tỉ lệ biến chứng sau cryothera- py rất thấp và đều quan trọng là phải phân biệt được biến chứng nào thỉnh thoảng xuất hiện, tạm thời và vĩnh viễn (Bảng 1). (Pasquali 2010; Kuflik và Kuflik 2012; Lawrence và Tefler 2010; Vujewich và Goldberg 2008; Petres 1996; Pasqualli 2013; Usatine 2015),Tác dụng phụ và biến chứng có thể xảy ra
Thường xảy ra:
- Phù Đau
- Xuất huyết trong bì Giảm sắc tố
- Lột da
- Mụn nước/ bọng nước Xuất tiết
- Xuất hiện mụn thịt (Milia) Đau đầu
- Ngất
- Xuất huyết ngoài vị trí vết thương
- Chậm lành vết thương
- Nhiễm trùng thứ phát Bỏng
- U hạt sinh mủ
- Giảm sắc tố Mất sắc tố Co kéo
- Làm sâu cánh mũi hoặc cánh tai Rụng tóc
- Biến dạng móng Sẹo teo
- Sẹo lồi
- Đau thần kinh Tổn thương gân Lộn mí
- U niêm dịch ở môi
- Phát ban mủ trợt ở da đầu Khởi phát bạch biến
KẾT LUẬN
Cryotherapy được xem là một lựa chọn điều trị linh hoạt cho những tổn thương lành tính và ác tính, tiến hành nhanh gọn, chi phí thấp và giảm tỉ lệ bệnh hơn so với phẫu thuật thông thường. Phương pháp này có thể được dung nạp ở đối tượng bệnh nhân người lớn tuổi, phụ nữ có thai. Ngoài ra phương pháp này còn cho kết quả có tính thẩm mỹ và có thể tiến hành ở phòng mổ hoặc phòng khám. Cryotherapy được sử dụng dể điều trị rất nhiều bệnh về da khác nhau. Mục đích của phương pháp là làm đóng băng mô bằng nhiệt độ âm, từ đó gây tổn thương mô bệnh, vết thương sau đó sẽ lành lại. Có vài kĩ thuật để tiến hành cryotherapy và việc lựa chọn kĩ thuật nào tùy thuộc vào tổn thương và người tiến hành thủ thuật. Những bác sĩ chưa có kinh nghiên nên tránh làm thủ thuật vì có thể gây tổn thương nhiều hơn nếu làm không đúng cách (Usatine 2015).GHI NHỚ
- Cryotherapy là một phương pháp hữu ích với bệnh da có nhiều tổn thương.
- Có thể phối hợp với các thủ thuật khác như lột da hóa chất và la- ser.
- Có thể dùng cryotherapy như phương pháp gây tê bề mặc cho các thủ thuật được lựa chọn.
- Lột da lạnh (cryopeeling) có thể áp dụng để điều trị vùng tổn thương ung thư hóa rộng.
- Mang lại kết quả điều trị tốt và có tính thẩm mỹ đối với bệnh dày sừng ánh sáng.
Abdel-Meguid AM, Weshahy AH, Sayed DS, Refaiy AE, Awad SM. Intrale- sional vs. contact cryosurgery in treat- ment of keloids: a clinical and immuno- histochem- ical study. Int J Dermatol. 2015;54(4):468–75.
Afsar FS, Erkan CD, Karaca S. Clinical practice trends in cryosur- gery: a retrospective study of cutane- ous lesions. Postepy Dermatol Alergol. 2015;32(2):88–93.
Chiarello SE. Cryopeeling (extensive cryosurgery) for treat- ment of actinic keratoses: an update and compari- son. Dermatol Surg. 2000;26(8):728–32.
Choudhary S, Koley S, Salodkar
A. A modified surgical technique for steatocystoma multiplex. J Cutan Aes- thet Surg. 2010;3(1):25–8.
Farhangian ME, Snyder A, Huang KE, Doerfler L, Huang WW, Feldman SR. Cutaneous cryosurgery in the United States. J Dermatolog Treat. 2015;24:1–4. [Epub ahead of print].
Gonçalves JC. Fractional cryo- surgery for skin cancer.
Dermatol Surg.
2009;35(11):1788–96.
Gurel MS, Aral BB. Effectiveness of erbium: YAG laser and cryosurgery in seborrheic keratoses: randomized, prospective intraindividual com- parison study. J Der- matolog Treat. 2015;26(5):477–80.
Kuflik EG, Kuflik JH. Cryosurgery. In: Bolognia JL, Lorizo JL, Schaffer JV, editors. Dermatology. 3rd ed. Edin- burgh: Elsevier; 2012. p. 2283–9.
Kumarashinghe SPW. Cryotherapy in idiopathic guttate hypomelanosis. J Dermatol. 2004;31:437–9.
Lawrence CM, Tefler NR. Der- matological surgery- cryosurgery. In: Burns T, Breathnach S, Cox N, Griffiths C, editors. Rook’s textbook of derma- tol- ogy, vol. 1., 8th ed. Hoboken: Wiley Blackwell; 2010. p. 77-39–42.
Van Leeuwen MC, van der Wal MB, Bulstra AE, Galindo- Garre F, Mo- lier J, van Zuijlen PP, van Leeuwen PA, Niessen FB. Intralesional cryotherapy for treatment of keloid scars: a pro- spective study. Plast Reconstr Surg. 2015;135(2):580–9.
Panagiotopoulos A, Chasapi V, Nikolaou V, Stavropoulos PG, Kafouros K, Petridis A, Katsambas A. Assessment of cryotherapy for the treatment of ver- rucous epidermal naevi . Acta Derm Ve- nereol. 2009;89(3):292–4.
Pasquali P, Sebastian GJ, Zouboulis CC. Cryosurgery. In: Robin- son JK, Hanke WC, Siegel DM, Fratila A, editors. Surgery of the skin-procedural dermato- logy. 2nd ed. Edinburgh: Mosby-Elsevier; 2010. p. 153–65.
Pasqualli P. Cryosurgery. In: Nouri K, editor. Dermatologic surgery step by step. West Sussex: Wiley-Black- well; 2013. p. 51–7.
Petres J, Rampel R, Robins B. Cryosurgery. In: Petres J, Rampel R, Robins B, editors. Dermatologic sur- gery. Berlin: Springer; 1996. p. 101–5. Playsangam T, Dee-Ananlap S, Swan- prakorn P. Treatment of idiopathic gut- tate hypomelanosis with liquid.




0 nhận xét:
Đăng nhận xét