LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

 NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG PEEL NÔNG (PHẦN 3)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

PHỐI HỢP PEEL

Trong những năm gần đây, có nhiều loại peel nông mới đã được phát triển. Người ta thường phối hợp alpha hydroxyl acid hoặc retinoic acid với những chất giảm sắc tố khác. Chúng tôi sử dụng một loại peel phối hợp có tên là peel “Cimel” gồm chứa: retinoic acid (3-5%) + alpha hydroxy acid (lac- tic acid 9%) hoặc beta hydroxyl acid (salicylic acid 2-3%) + chất giảm sắc tố (hydroquinone 3-4% + kojic acid 2%). Dung dịch này được bôi lên da mặt và cơ thể bằng cách sử dụng găng tay (hình 1a, 1b, 1c). Chúng tôi đã thu được kết quả rất tốt khi điều trị mụn và tăng sắc tố với loại peel này, thậm chí là ở người có da tối màu. Có thể quan sát được sự cải thiện về cấu trúc da trong hình 2,3.

Flour-Hydroxy peel

5-Fluorouracil (5-FU) là chất có tác dụng rất hiệu quả trong điều trị dày sừng ánh sáng (AK). Chất này ức chế tổng hợp DNA và RNA đồng thời phá hủy sự tăng sinh quá mức của AKs. Tuy nhiên, 5-FU có thể gây đỏ da nặng, kích ứng tại chỗ, phù nề, và cảm giác khó chịu trong suốt quá trình điều trị và thời gian sau điều trị, từ 4 đến 8 tuần.
Glycolic acid phối hợp với 5-flu- orouracil là một sự phối hợp đặc biệt có hiệu quả trong điều trị dày sừng ánh sáng. Trong phương pháp này, acid glycolic 70% (pulse dose: liều cao trong thời gian ngắn để tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ) được bôi ngay sau khi bôi 5-FU, liệu trình được thực hiện hàng tuần trong 8 tuần. Cách này phối hợp được tác dụng điều trị và ly sừng của glycolic acid với hiệu quả của 5-FU, và đây là điều trị tiêu chuẩn đối với dày sừng ánh sáng (Marrero và Katz 1998).

Salicylic- Mandelic acid

Đây là phương pháp phối hợp SA 20%, là một loại beta-hydroxy acid với mandelic acid 10% là một loại al- pha hydroxyl acid. SA là một acid ưa lipid, có khả năng xâm nhập vào các tổn thương mụn hoạt động nhanh, trong khi mandelic acid là loại acid có trọng lượng phân tử lớn nhất nên xâm nhập vào thượng bì rất chậm và đồng nhất (là chất peel lí tưởng đối với da nhạy cảm). Cách phối hợp này đặc biệt hữu ích khi peel ở đối tượng người da tối màu vì nó có thể ngăn sự xuất hiện của PIH (tăng sắc tố sau viêm). Chỉ định chính của phương pháp này là mụn trứng cá, sẹo sau mụn, rối loạn sắc tố như nám má (Garg 2008).

Hình 1: (a) peel Cimel. (b) bôi dung dịch peel Cimel (màu vàng) với găng tay. (c) Kết tủa acid trên đầu những tổn thương viêm

Hình 2: trước và sau một liệu trình peel Cimel: Chất lượng da và tình trạng sắc tố được cải thiện.
Hình 3: trước và sau 1 liệu trình peel Cimel: sang thương mụn và sắc tố được cải thiện

Mandelic acid phù hợp với da nhạy cảm hơn so với các AHA khác. Vì trọng lượng phân tử lớn nên nó xâm nhập rất chậm và do đó không gây bỏng rát hoặc châm chích. Khi peel da sẽ cảm thấy mềm. Acid này còn có khả năng tăng sinh collagen và sợi elastin và GAGs ở lớp bì nhú. Bên cạnh đó, nó còn có hoạt tính kháng khuẩn và điều hòa tiết bã nhờn. Dạng sử dụng tốt nhất cho acid này là dạng gel và mask (mặt nạ).

Đây là cách peel không chỉ an toàn hơn so với peel glycolic acid trong điều trị nám má mà bệnh nhân có thể dung nạp tốt hơn và phù hợp với những người Ấn Độ (Sarkar 2016).

NHỮNG PHỐI HỢP PEEL KHÁC

Có rất nhiều cách phối hợp các acid peel với nhau. Công thức cuối cùng sẽ phụ thuộc vào hiểu biết về dược học của bác sĩ thực hiện, chỉ định của chất peel và phụ thuộc vào bệnh nhân. Một vài hóa chất peel có thể được dùng phối hợp được liệt kê như sau:

Hóa chất peel:

  • Glycolic acid 0.2-30%
  • Lactic acid 5-25%
  • Citric acid 5-30%
  • Phytic acid 2.5%
  • Mandelic acid 20-40%
  • Salicylic acid 2-30%
  • Thioglycolic acid 5-10%
  • Pyruvic acid 25-40%
  • Phối hợp với chất giảm sắc tố như:
  • Kojic acid 5-7%
  • Alpha-arbutin 2%
  • Azelaic acid 10-20%
  • Hydroquinone 2-5%

TÁC DỤNG PHỤ VÀ CÁCH XỬ LÝ

Nếu được thực hiện đúng cách thì peel nông rất an toàn và tác dụng phụ cũng như biến chứng hiếm khi xảy ra.
Đỏ da là tác dụng phụ thường gặp và có thể kéo dài trong một vài ngày.
Có sự lột da nhẹ sau peel, đây là dấu hiệu tốt và bệnh nhân nên được biết về đều này.
Tăng sắc tố hiếm khi xảy ra và có thể do peel sâu quá mức. Biến chứng này có thể được xử lí bằng cách sử dụng các chất ức chế sắc tố và chống nắng.

GHI NHỚ

  • Peel nông là phương pháp rất quan trọng trong thực hành da liễu. Phương pháp này an toàn, tiết kiệm và cho hiệu quả nhanh. Peel nông có thể giúp da trở nên sáng hơn và đẹp hơn chỉ trong vài ngày.
  • Đều quan trọng là phải biết cách sử dụng các loại peel khác nhau.
  • Phối hợp các hóa chất peel (alpha hydroxyl acid, retinoic acid và chất ức chế sắc tố) là xu hướng đang phát triển hiện nay.
  • Kiến thức da liễu cơ bản là cần thiết đối với tất cả các loại peel, kể cả peel nông. Bác sĩ tiến hành phải lưu ý đến phân loại da của bệnh nhân, màu sắc, độ dày, độ săn chắc, mức độ da đầu và sự mỏng manh của da.
Không nên tiến hành peel da, thậm chí đối với peel nông ở những bệnh nhân trừ khi da của họ đã được chuẩn bị ít nhất 4-5 tuần với các điều trị da liễu.


THAM KHẢO
Berardesca E, et al. Clinical and instrumental evaluation of skin im- provement after treatment with a new 50% pyruvic acid peel. Dermatol Surg. 2006;32:526–31.
Bernstein EF, et al. Glycolic acid treatment increases type
1 collagen mRNA and hyaluron- ic acid content of human skin. Derma- tol Surg. 2001;27:429–33.
Brody HJ, et al. A history of chem- ical peeling. Dermatol Surg. 2000;26:5.
Costa A, et al. 10% thioglycolic acid gel peels: a safe and efficient op- tion in the treatment of constitutional infraorbital hyperpigmentation. Surg Cosmet Dermatol. 2010;2(1):29–33.
Dainichi T, et al. Excellent clini- cal results with a new preparation for chemical peeling in acne: 30% salicilic acid in polyethylene glycol vehicle. Der- matol Surg. 2008;34:891–9.
Fischer TC, et al. Chemical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. JEADV. 2010;24:281–92.
Garg VK, et al. Glycolic acid peels versus salicylic- mandelic acid peels in active acne vulgaris and post- acne scarring and hyperpigmentation: a comparative study. Dermatol Surg. 2008;35:59–65.
Griffin TD, et al. The use of pyru- vic acid as a chemical peeling agent. J Dermatol Surg Oncol. 1989;15:13.
Hofmeister HA, et al. Glycolic acid in photoaging. An Bras Dermatol. 1996;71(1):7–11.
Khunger N, et al. Tretinoin peels versus glycolic acid peels in the treat- ment of Melasma in dark-skinned pa- tients. Dermatol Surg. 2004;30:756– 60.
Landau M. chemical peel. Clin Dermatol 2008;26:200-8
Marrero GM, Katz BE. The new flúor-hydroxy pulse peel. A combina- tion of 5-FU and glycolic acid. Derma- tol Surg. 1998;24(9):973–8.
Reinoso YD, et al. Extrinsic skin aging. Treatment with tretinoin. An Bras Dermatol. 1993;68(1):3–6.
Safoury OS, et al. A study com- paring chemical peeling using modified Jessner solution and 15% TCA versus 15% TCA in the treatment of melasma. Indian J Dermatol. 2009;54(1):41–5.
Salam A, et al. Chemical peeling in ethnic skin: an update.
Br J Dermatol. 2013;169:82–90.
Sarkar R, et al. Chemical peels for melasma in dark skinned patients. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):247–53. Sarkar R, et al. Comparative evaluation of efficacy and tolerabil- ity of glycolic acid, salicylic mandel- ic acid and phytic acid combination peels in melasma. Dermatol Surg.
2016;42(3):384–91.
Sharquie KE, et al. Lactic acid as a new therapeutic peeling agent in melasma. Dermatol Surg. 2005;31 (2):149–54.

Sharquie KE, et al. Lactic acid as a new therapeutic peeling agent in the treatment of Lifa disease (frictional dermal melanosis). Indian J Dermatol. 2012;57(6):444–8.
Vavouli C, et al. Chemical peel- ing with trichloroacetic acid and lactic acid for infraorbital dark circles. J Cos- met Dermatol. 2013;12:204–9.
Vigneron, JL. The wonderful world of the peelings. 24th EADV Con- gress. Copenhagen, October 2015.
Yokomizo VMF, et al. Chemi- cal peels: review and practical ap- plications. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(1):58–68.
Vigneron, JL. The wonderful world of the peelings. 24th EADV Con- gress. Copenhagen, October 2015.
Yokomizo VMF, et al. Chemi- cal peels: review and practical ap- plications. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(1):58–68.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét