XỬ LÝ BIẾN CHỨNG CỦA PEEL HÓA CHẤT (PHẦN 1)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
TÓM TẮT
Peel hóa chất là thủ thuật trong đó hóa chất peel được bôi lên da nhằm làm bong da có kiểm soát kèm theo quá trình tân tạo collagen diễn ra sau đó, đặc tính này được xem là phương tiện để áp dụng để điều trị mụn, rối loặn sắc tố và lão hóa ánh sáng (Ni- kalji, J Cutan Aesthet Surg 5(4):254- 260,2012). Kết quả điều trị và biến chứng tùy thuộc vào độ sâu của tổn thương, peel càng sâu càng có hiệu quả đồng thời nguy cơ bị biến chứng càng cao.
Biến chứng thường xảy ra hơn đối với những bệnh nhân có da tối màu, nhiều hơn đối với một số loại chất peel, và do phơi bày với ánh sáng mặt trời (Nikalji, J Cutan Aesthet Surg 5(4):254-260,2012). Các biến chứng có rất nhiều loại khác nhau từ kích ứng da nhẹ, không đều màu da cho đến hình thành sẹo lâu dài. Trường hợp biến chứng đe dọa đến tính mạng là rất hiếm khi xảy ra. Hiểu biết về những biến chứng có thể xảy ra rất quan trọng để giúp chúng ta có thể dự phòng, hạn chế để xảy ra biến chứng (Gadelha và Costa, Dermatologia
cirurgia dermatologica, 2nd edn. Ath- eneu, São Paulo, 2009).
Phù nề, đau, đỏ da kéo dài, ngứa, phản ứng dị ứng, viêm nang lông/mụn trứng cá, nhiễm trùng, tái nhiễm her- pes, giảm sắc tố và tăng sắc tố, đường giới hạn giữa 2 vùng da khác màu, và sẹo là những biến chứng sẽ được bàn luận trong chương này.
Bước đầu tiên để tránh biến chứng xảy ra là nhận diện được những bệnh nhân có nguy cơ gặp biến chứng, từ đó có thể dự đoán và ngăn ngừa biến chứng có thể xảy ra, và nếu có xảy ra biến chứng thì phải điều trị sớm nhất có thể.
NỘI DUNG
- Giới thiệu
- Những biến chứng có thể xảy ra đối với tất cả loại peel
- Biến chứng riêng đối với từng loại peel
- Kết luận
- Ghi nhớ
- Tham khảo
GIỚI THIỆU
Peel hóa chất là một thủ thuật sử dụng hóa chất có nồng độ xác định bôi lên da để gây phá hủy có kiểm soát các lớp tế bào của da kèm theo sau đó là quá trình tân tạo và tổ chức lại, nhờ đó sẽ giúp cải thiện cấu trúc của da và những bất thường ở bề mặt da (Anitha 2010). Phương pháp này được sử dụng những năm gần đây để phục hồi da cho những bệnh nhân ngoại viện cũng như để điều trị các bệnh lí da (Schur- er và Wiest 2006). Một thủ thuật peel phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau dựa trên hiểu biết rõ cấu trúc mục tiêu và tình trạng da của bệnh nhân, như phân loại hóa học của chất peel, nồng độ, tần suất peel, và áp lực peel (Fisch- er 2010).Peel hóa học được phân thành peel nông, trung bình và sâu tùy thuộc vào độ sâu mà hóa chất có thể xâm nhập xuống được (Landau 2008). Trong peel nông, hóa chất chỉ xâm nhập vào lớp thượng bì và được sử dụng để cải thiện điều trị với nhiều loại bệnh bao gồm mụn trứng cá, nám má, rối loạn sắc tố và tổn thương ánh sáng. Với peel trung bình, hóa chất có thể xâm nhập đến lớp bì nhú và được sử dụng cho các rối loạn sắc tố, dày sừng ánh sáng đa điểm và sẹo nông. Còn trong peel sâu, hóa chất xâm nhập đến lớp bì lưới và có thể được sử dụng đối với lão hóa ánh sáng nặng, nếp nhăn sâu và sẹo. (Rendon 2010).
Kết quả đạt được và biến chứng tỉ lệ với mức độ peel. Mặc dù peel sâu có thể mang lại kết quả tốt hơn nhưng peel trung bình có thể cho phép thu được kết quả rất tốt với ít nguy cơ hơn so với peel sâu (Camacho 2005). Trước khi bắt đầu thực hiện phương pháp này trong thực hành chuyên khoa của mình, bạn phải hiểu rằng cũng giống như những thủ thuật y khoa khác peel hóa học cũng có rất nhiều tác dụng phụ tiềm ẩn.
Biến chứng khi peel hóa học có thể xảy ra dù được tiến hành một cách có kiểm soát. Các bác sĩ chuyên khoa da phải hiểu rõ các loại peel và đưa ra phác đồ chăm sóc sau thủ thuật dựa trên phân loại da của bệnh nhân (Brody 2001). Biến chứng thường xảy ra nhiều đối vơi bệnh nhân có phân loại da tối màu, xảy ra nhiều đối với một số loại hóa chất hơn và khi phơi bày ánh sáng (Nikalji 2012). Trường hợp biến chứng đe dọa đến tính mạng là rất hiếm khi xảy ra. Hiểu biết về những biến chứng có thể xảy ra rất quan trọng để giúp chúng ta có thể dự phòng, hạn chế để xảy ra biến chứng.
Bước đầu tiên để tránh biến chứng xảy ra là nhận diện được những bệnh nhân có nguy cơ gặp biến chứng, từ đó có thể dự đoán và ngăn ngừa biến chứng có thể xảy ra, và nếu có xảy ra biến chứng thì phải điều trị sớm nhất có thể. Những bệnh nhân có nguy cơ cao là những người có phân loại da tối màu với nguy cơ bị tăng sắc tố sau viêm; người có da dễ tổn thương hoặc tiền sử bị viêm da cơ địa; tiền sử nhạy cảm ánh sáng hoặc tăng sắc tố sau viên; da khô; làm việc ngoài trời; đang sử dụng thuốc nhạy cảm với ánh sáng; tiền sử sẹo lồi, chậm lành vết thương (hình 1) hoặc nhiễm herpes; người gần đây có sử dụng isotretinoin; người có kỳ vọng phi thực tế; bệnh nhân không hợp tác và hay om sòm, và những người có rối loạn tâm thần (Anitha 2010).
Việc lựa chọn kĩ thuật peel phù hợp dựa vào việc khám cẩn thận da tổn thương của bệnh nhân và kĩ thuật được lựa chọn để điều trị phải mang lại lợi ích cao hơn so với nguy cơ. Quy trình điều trị cuối cùng nên được cá nhân hóa tùy theo nhu cầu của bệnh nhân (Mataraso và Glogau 1991). Mặc dù trên thực tế các biến chứng có thể xảy ra nhưng thủ thuật peel da vẫn đóng vai trò quang trọng trong điều trị các bệnh lí cụ thể của da mà các phương pháp phẫu thuật tiêu chẩn không thể xử lí tốt được (Litton và Trinidad 1981).
Để tránh những tình huống xấu xảy ra trong tương lai, cần lấy phiếu đồng thuận của bệnh nhân và chụp ảnh bệnh nhân dưới ánh sáng thích hợp ở tất cả bệnh nhân (Anitha 2010). Bên cạnh đó, cần nhắc nhở bệnh nhân không nên xếp những sự kiện quan trọng của họ trong ít nhất 5 ngày sau peel nông (Khunger 2009), 20 ngày sau peel trung bình, và 30 ngày sau peel sâu. Các biến chứng quan trọng được mô tả trong bảng 1.
NHỮNG BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XUẤT HIỆN Ở TẤT CẢ CÁC LOẠI PEEL
Đỏ da kéo dài
Đỏ da là dấu hiệu bình thường sau tất cả các loại peel, nhưng đỏ da kéo dài là hậu quả của sự giãn mạch, điều này cho thấy đã có sự tăng sản mô sợi do bị kích thích trong một khoảng thời gian dài. Do đó có thể làm cho da trở nên dày và tạo sẹo (Nikalji 2012).Một vài nguyên nhân gây ra tình trạng đỏ da kéo dài được biết là bệnh nhân có sử dụng retinoin bôi ngay trước và sau khi làm thủ thuật, uống isotretinoin trước khi làm thủ thuật, uống thức uống có cồn (Spira 1974), viêm da tiếp xúc, nhạy cảm tiếp xúc, và một vài bệnh da trước đó (trứng cá đỏ, viêm da cơ địa, lupus ban đỏ).
Peel trung bình và peel sâu có xu hướng dễ bị đỏ da kéo dài hơn. Đỏ da thường biến mất sau 3-5 ngày khi peel nông, 15-30 ngày khi peel trung bình và 60-90 ngày sau peel sâu (Mon- heit 2004).
Đỏ da kéo dài phải được xử lí càng sớm càng tốt ngay khi mà nó được chẩn đoán với steroid bôi mạnh trong 1-2 tuần, sử dụng mủ và chống nắng, và chất làm mềm liên tục. Thỉnh thoảng, có thể dùng phấn phủ màu da để che da đỏ trong thời gian điều trị. Tiêm steroid vào sang thương, uống hoặc tiêm bắp steroid cũng có thể được sử dụng trong những trường hợp không đáp ứng. Đỏ da kéo dài có xu hướng đáp ứng tốt với các máy IPL hoặc PDL (Tung và Rubin 2011).
Điều chỉnh kì vọng của bệnh nhân trước khi tiến hành thủ thuật à bắt buộc vì bệnh nhân sẽ đánh giá tốt nếu được thông tin về kết quả và những vấn đề có thể xảy ra trong khoảng thời gian sau peel (Levy và Emer 2012).
Tổn thương mắt
Nếu vô tình để dính bất kì hóa chất nào vào mắt thì có thể ngay lập tức gây tổn thương giác mạc, do đó các bác sĩ phải hết sức cẩn thận khi peel ở vùng quanh mắt. Một khi lỡ bị dính hóa chất vào mắt thì ngay lập tức rửa mắt với dung dịch saline để tránh gây tổn thương giác mạc. Nếu bị dính vào mắt khi peel phenol thì nên rửa mắt bằng sử dụng dầu khoáng thay vì sa- line (Nikalji 2012).Một cách tiếp cận để giúp hạn chế biến chứng này là có sẵn tăm bông để nhanh chóng loại bỏ những giọt nước mắt nằm cạnh mí và một bơm tiêm chứa đầy saline để sẵn trong trường hợp bị dính acid vào mắt (Tung và Rubin 2011).
Đã có những trường hợp bị bị lộn mí mắt do sẹo được báo cáo ở những bệnh nhân được peel phenol, và lộn mí mắt dưới cũng đã được báo cáo đã xảy ra ở những bệnh nhân peel sâu kèm với phẫu thuật thẩm mỹ ở vùng mí mắt (Dailey 1998). Những yếu tố nguy cơ là bệnh nhân lớn tuổi da không còn săn chắc, bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật thẩm mĩ vùng mí mắt trước đó, và bệnh nhân có da mỏng (Nikalji 2012). Trong hầu hết trường hợp, biến chứng này có thể tự giới hạn (tự lành) và không cần điều trị đặc hiệu nào, chỉ cần chăm sóc bảo tồn (massage vùng da dưới mí, vỗ nhẹ mí mắt đặc biệt vào buổi tối và bảo vệ nhãn cầu với nước mắt nhân tạo (Mendelsohn 2002).
Phù nề
Tất cả những hóa chất được sử dụng để có thể gây phù nề, mặc dù biến chứng này thường xảy ra hơn khi peel sâu. Phù nề là biến chứng có thể dự đoán được và xuất hiện từ 24-72h sau khi làm thủ thuật, và nó có thể mất vài ngày để phục hồi. Thông thường chỉ bị phù nhẹ, nhưng phù có thể tương đối nhiều ở vùng da gần mắt. Dự đoán trước cho bệnh nhân là cách giúp họ cảm thấy đỡ lo lắng hơn một khi biến chứng này xảy ra. Sử dụng nước đá, kháng histamine (loratadine 10mg, hydroxyzine 25mg, diphenhydramine 25-75 mg buổi tối), và chăm sóc vết thương hợp lí là những cách để tránh tình trạng phù nề nặng. Đối với những bệnh nhân bị phù nề nặng nên sử dụng steroid hệ thống như prednisolone hoặc methylprednisolone. Một vài bác sĩ chọn việc sử dụng steroid hệ thống để dự phòng phù nề nhưng có thể sẽ làm chậm lành vết thương (Tung và Rubin 2011).Đau và rát bỏng
Đau là biến chứng có thể dự đoán được và là biến chứng thường gặp khi peel trung bình và peel sâu. Mức độ đau dao động khác nhau giữa các bệnh nhân, và nó có thể ở mức độ từ rất thấp đến rất cao. Trong peel trung bình, đau kéo dài chỉ trong một vài phút sau khi bôi hóa chất, và thường không cần phải dùng thuốc giảm đau cho bệnh nhân. Trong quá trình làm thủ thuật có thể dùng lidocaine 2.5% + prilocaine 2.5% hoặc lidocaine 4% để giúp bệnh nhân giảm đau mà không ảnh hưởng gì đến sự xâm nhập vào da của hóa chất peel. Peel sâu thường gây đau nhiều hơn và đau tăng lên dần nhiều giờ sau thủ thuật, duy trì tối đa từ 8-12h (Tung và Rubin 2011). Phơi nắng kéo dài, bôi không đủ chống nắng, sử dụng retinoid bôi hoặc gly- colic acid ngay sau khi peel có thể đưa đến biến chứng này (Nikalji 2012). Một cách khó hiểu, trong một vài trường hợp, chất chống nắng có thể tự nó gây nhạy cảm tiếp xúc hoặc viêm da kích ứng (Uday 2007). Bệnh nhân thường có cảm giác đau và rát bỏng thường ngay trong quá trình peel nếu có da kiểu nhạy cảm.Áp nước đá lạnh ngay sau khi làm thủ thuật giúp giảm đau và cảm giác bỏng rát (Nikalji 2012). Đối với peel sâu thì cần phải sử dụng gây tê mạnh cho bệnh nhân. Tương tự, bôi kem calamine có thể giúp làm mềm da. Có thể sử dụng teroid bôi như hydrocortisone hoặc fluticasone để giảm viêm, sử dụng chất dưỡng ẩm, và chống nắng để hạn chế tình trạng tăng sắc tố sau viêm (Nikalji 2012).
Viêm da và mụn
Đối với bệnh nhân có da dễ tổn thương thì peel hóa chất có thể làm bùng phát viêm nang lông hoặc mụn trứng cá. Thời gian ngắn sau khi peel, rất nhiều sẩn đỏ có thể xuất hiện, hầu hết các trường hợp là do sử dụng dưỡng ẩm trong thời gian này. Điều trị đối với tình trạng này tương đối khó khăn do hầu hết những kem bôi trị mụn gây kích ứng đối với da đang hồi phục. Kháng sinh đường uống (tetracycline 500mg 2 lần mỗi ngày/ minocycline 100 mg 2 lần mỗi ngày) có thể được sử dụng trong trường hợp này và tình trạng được cải thiện trong vòng 1 tuần (Tung và Rubin 2011).Phản ứng dị ứng
Viêm da tiếp xúc dị ứng thường xảy ra với resorcinol, salicylic acid, ko- jic acid, và lactic acid (Nikalji 2012). Bất kì loại peel nào cũng có thể gây viêm da kích ứng, đặc biệt nếu sử dụng với tần suất nhiều lần, không đúng nồng độ hoặc chuẩn bị da bệnh nhân quá mức với acetone hoặc những dung dịch tẩy nhờn khácNếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất kì loại chất peel nào thì nên cho bệnh nhân uống kháng histamine dự phòng.
Nổi mụn nước
Tình trạng này thường xuất hiện ở những bệnh nhân trẻ có da lỏng lẽo vùng quanh mắt. Peel sâu hơn bình thường đặc biệt là với alpha-hydroxy acid có thể dẫn đến li giải thượng bì, rộp da và nổi mụn nước đặc biệt là ở những vùng da yếu như nếp gấp mũi má và vùng quanh miệng. TCA 50% và glycolic acid 70% có thể gây nổi mụn nước. Để tránh biến chứng này, những vùng như nếp gấp mũi má, khóe mắt trong, và góc miệng nên được bảo vệ bằng thạch petroleum (Nikalji 2012).Bầm tím
Biến chứng này thường xảy ra ở vùng dưới ổ mắt của một vài bệnh nhân và là biến chứng ít gặp của peel hóa chất. Tình trạng này thường liên quan đến với tình trạng phù nề nặng sau peel, với những bệnh nhân có teo da hoặc bệnh nhân có tổn thương da ánh sáng (Tung và Rubin 2011). Bầm tím sẽ biến mất tự nhiên và dự phòng tốt nhất là điều trị tình trạng phù nề trước khi bầm tím xuất hiện, luôn cảnh báo cho những bệnh nhân có nguy cơ về những biến chứng có thể xảy ra sâu peel.Giãn mạch
Giãn mạch bề mặt có thể xử lí bằng peel hóa chất; tuy nhiên hầu hết tình trạng giãn mạch máu đều nằm ở sâu bên dưới và do đó trở nên thấy rõ hơn sau khi peel vì những tình trạngthay đổi do ánh sáng và sắc tố đã bị loại bỏ bởi quá trình peel. Giải thích trước cho bệnh nhân về khả năng xảy ra của biến chứng này trước khi tiến hành thủ thuật.
Nếu bệnh nhân vẫn lo lắng về tình trạng giãn mạch có thể sử dụng IPL, phẫu thuật điện hoặc laser mạch máu để loại bỏ giãn mạch ở da (Tung và Rubin 2011). Bệnh nhân nếu có sẵn tình trạng giãn mạch thì sau peel phenol sẽ thấy rõ hơn tình trạng này (Gadelha và Costa 2009).
Nhiễm vi khuẩn
Thường thì ít khi xảy ra tình trạng nhiễm khuẩn sau khi peel vì những hóa chất peel được sử dụng đều có khả năng diệt khuẩn. Tuy nhiên, nếu bôi dầu dầy gây bít tắt quá lâu, chăm sóc vết thương kém hoặc sự thiếu hiểu biết của bệnh nhân về chăm sóc vết thương, tích tụ những mảnh hoại tử, và tình trạng chốc hóa là những yếu tố nguy cơ góp phần tạo cơ hội cho vi khuẩn như Streptococus, Staphylococus, hay Pseudomonas phát triển (Nikalji 2012; Levy và Emer 2012). Những đặc điểm lâm sàng của nhiễm trùng là chậm lành vết thương, viêm nang lông, loét và đóng mài (hình 2).Để giảm nguy cơ bị nhiễm trùng, bệnh nhân cần được căn dặn là nên rửa sạch lớp da hoại tử hoặc lớp mài bằng cách đắp gạc thấm acetic acid 0.5% 3 lần mỗi ngày cho đến khi sạch lớp mài hoặc sử dụng mỡ kháng sinh dùng trong mũi nếu bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng (Tung và Rubin 2011). Nếu xảy ra tình trạng nhiễm trùng trong thời gian sau peel, thì cần phải theo dõi cẩn thận vì sẽ có nguy cơ hình thành sẹo nếu không được điều trị thích hợp với kháng sinh phổ rộng. Ngoài ra, cấy vi khuẩn và nhuộm gram nên được tiến hành trước kkhi bắt đầu điều trị để giúp đưa ra lựa chọn kháng sinh phù hợp.
Nếu bệnh nhân có sốt, ngất do huyết áp thấp, nôn, hoặc tiêu chảy 2-3 ngày sau khi peel kèm theo nổi ban dạng tinh hồng nhiệt và bong vảy sau đó thì bác sĩ nên cảnh giác sự tồn tại của hội chứng shock ngộ độc. Những triệu chứng khác bao gồm đau cơ, sung huyết niêm mạc, và các triệu chứng liên quan đến gan thận, máu, hoặc hệ thống thần kinh trung ương. Nên truyền dịch tĩnh mạch và kháng sinh chống vi khuẩn đề kháng betalac- tamase để tránh tình trạng suy mạch máu (Dmytryshyn 1983; Loverme 1987).
Nhiễm nấm candida
Nhiễm candida có thể xảy ra và khó có thể nhận biết được do da đã bị ăn mòn. Khi nhiễm trùng candida thường có mủ trên bề mặt da (Nikalji 2012).Những yếu tố nguy cơ làm dễ nhiễm candida bao gồm sử dụng kháng sinh đường uống trong thời gian gần đây, bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc mắc bệnh đái tháo đường, và sử dụng kéo dài corticoste- roid bôi. Cần lưu ý là nhiễm candida thường khôngxuất hiện nếu là peel bằng phenol (Tung và Rubin 2011).
Tái nhiễm herpes
Sự tái nhiễm herpes có thể xảy ra sau những chấn thương da được gây ra bởi peel hóa chất, do đó bệnh nhân cần phải được hỏi kĩ về tiền sử nhiễm herpes. Thời điểm khởi phát herpes có thể khác nhau từ 5 đến 12 ngày hoặc thậm chí là lâu hơn (Gadel- ha và Costa 2009). Do da không có đầy đủ lớp thượng bì do peel nên những tổn thương do tái nhiễm herpes thường không phải dạng mụn nước mà xuất hiện ở dạng những chỗ loét nông và loét với đường kính 2-3 mm, hình tròn, ở riêng một vùng hoặc trong vùng có nền da đỏ. Để điều trị có thể dùng acyclovir (400mg 4-5 lần/ ngày) hoặc valacyclovir (500mg 3 lần/ ngày) (Spira 1974). Điều trị dự phòng bằng acyclovir uống (200-400mg 3 lần/ngày) hoặc valacyclovir (500 mg 2 lần/ngày) bắt đầu 2-3 ngày trước khi làm thủ thuật và uống trong 14 ngày tiếp sau đó (Nikalji 2012).Các biến chứng nhiễm trùng thường gặp nhất được liệt kê trong bảng 2.
J Cutan Aesthet Surg.
2010;3(3):186–8.
Brody HJ. Complications of chemical resurfacing.
Dermatol Clin. 2001;19:427–38. vii–viii.
Camacho FM. Medium-depth and deep chemical peels. J Cosmet Dermatol. 2005;4:117–28.
Dailey RA, Gray JF, Rubin MG, Hildebrand PL, Swanson NA,Wobig JL, WilsonDJ, Speelman
P. Histopathologic changes of the eyelid skin following trichloroace- tic acid chemical peel. Ophthal Plast Reconstr Surg. 1998;14(1):9–12.
Dmytryshyn JR, Gribble MJ, Kas- sen BO. Chemical face peel complicated by toxic shock syndrome. A case report. Arch Otolaryngol. 1983;109:170–1.
Fischer TC, Perosino E, Poli F, Vi- era MS, Dreno B, Cos- metic Dermatol- ogy European Expert Group. Chemical peels in aesthetic dermatology: an up- date 2009. J Eur Acad Dermatol Vene- reol. 2010;24:281–92.
Gadelha AR, Costa IMC. Derma- tologia cirurgia dermatológica. 2nd ed. São Paulo: Atheneu; 2009.
Glogau RG, Matarasso SL. Chemical Peels. Dermatol Clin. 1995;13(2):263–74.
Gross BG. Cardiac arrhythmias during phenol face peel- ing. Plast Re- constr Surg. 1984;73:590–4.
Khunger N. Standard guidelines of care for chemical peels.
Indian J Dermatol Venereol Lep- rol. 2008;74:5–12.
Khunger N. Complications. In: Step by step chemical peels. 1st ed. New Delhi: Jaypee Medical Publishers; 2009.
p. 280–97.
Klein DR, Little JH. Larynge- al edema as a complication of chem- ical peel. Plast Reconstr Surg. 1983; 71(3):419–20.
Landau M. Cardiac complica- tions in deep chemical peels.
Dermatol Surg. 2007;33:190–3. Landau M. Chemical peels. Clin
Dermatol. 2008;26:200–8. Levy LL, Emer JJ. Complications of minimally in- vasive cosmetic procedures: prevention and management.
J Cutan Aesthet Surg.
2012;5(2):121–32.
Litton C, Trinidad G. Complica- tions of chemical face peeling as evalu- ated by a questionnaire. Plast Reconstr Surg. 1981;67:738–44.
LoVerme WE, Drapkin MS, Courtiss EH, Wilson RM. Toxic shock syndrome after chemical face peel. Plast Reconstr Surg. 1987;80:115–8.
Matarasso SL, Glogau RG. Chemical face peels. Dermatol Clin. 1991;9(1):131–50.
Mendelsohn JE. Update on chemical peels. Otolaryngol Clin N Am. 2002;35(1):55–71.
Monheit GD. Chemical peels.
Skin Therapy Lett. 2004;9:6–11.
Nikalji N, Godse K, Sakhiya J, Pa- til S, Nadkarni
N. Complications of medium depth and deep chemical peels. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):254–60.
Rendon MI, Berson DS, Cohen JL, Roberts WE, Starker I, Wang B. Ev- idence and considerations in the appli- ca- tion of chemical peels in skin disor- ders and aesthetic resurfacing. J Clin Aesthet Dermatol. 2010;3 (7):32–43.
Schürer NY, Wiest L. Chemical peels. Hautarzt. 2006;57 (1):61–76.
quiz 77.
Singh-Behl D, Tung R. Chemical peels. In: Alam M, Gladstone HB, Tung RC, (eds). Requisites in Derma- tology: Cosmetic dermatology. Philadelphia, PA: Elsevier Ltd; 2009:83.
Spira M, Gerow FJ, Hardy SB. Complications of chemical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1974;54:397–403.
Stuzin JM. Phenol peeling and the history of phenol peel- ing. Clin Plast Surg. 1998;25(1):1–8.
Truppman ES, Ellenby JD. Major electrocardiographic changes during chemical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1979;63:44.
Tung RC, Rubin MG. Procedures in cosmetic dermatology series: Chem- ical Peels. St Louis, MO. 2nd Ed. Saun- ders Elsevier. 2011.
Uday K, Sushil P, Nischal K. Sun- screens. In: Handbook of dermatologi- cal drug therapy. 1st ed. New Delhi: El- sevier; 2007. p. 299–304.
Velasco MVR, Okubo FR, Ribeiro ME, Steiner D, Bedin
V. Rejuvenescimento da pele por peeling químico: enfoque no peeling de fenol. An Bras Dermatol. 2004;79(1):91–9.





0 nhận xét:
Đăng nhận xét