XỬ LÝ BIẾN CHỨNG CỦA PEEL HÓA CHẤT (PHẦN 2)
Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng
Đường ranh giới giữa các vùng da khác màu
Đường ranh giới là vùng chuyển tiếp màu sắc da nơi mà vùng da được peel gặp vùng da không được peel, và biến chứng này thường xuất hiện ở vùng dưới hàm, cạnh mắt, và quanh miệng. Thực ra bản chất nó không phải là một biến chứng; đường này chỉ là đường ranh giới giữa vùng da được và không được điều trị mà thôi. Tuy nhiên nó làm mất tính thẩm mỹ khi xuất hiện quá rõ ràng (Gadelha và Cos- ta 2009). Để tránh những đường này thì trong quá tình peel trung bình và peel sâu, đặc biệt là ở những người có da tối màu, nên sử dụng hóa chất peel với nồng độ thấp hơn ở sát vùng rìa để nối tiếp với vùng da bình thường xung quanh (Nikalji 2012). Bác sĩ tiến hành cũng nên cẩn thận tránh tình trạng bôi hóa chất không đều.Để đạt được kết quả tốt ở vùng quanh mắt, peel hóa chất nên thực hiện ngay bên dưới lông mi ở mí dưới và ở vùng nếp nhăn trên sụn mi. Ở vùng quanh miệng, peel da nên thực hiện ở nếp gấp mũi má, tuy nhiên không nên peel ở má và để lại đường ranh giới ở nếp gấp mũi má hơn là ở trung tâm của má. Ở vùng chân tóc và vùng hàm, nên tiến hành peel ăn sâu vào phía trong đường chân tóc và bôi đến vùng bên dưới góc hàm đến vùng cổ (Spira 1974). Cần lưu ý là những người có làm các thủ thuật trên mặt như căng da mặt có thể xuất hiện đường ranh giới trên mặt.
Nếu đường ranh giới do peel này quá rõ, thì phần còn lại của da có thể được điều trị bằng peel trung bình hoặc peeel sâu. Do vùng cổ rất ít đơn vị nang lông tuyến bã, đây là thành phần cần thiết cho quá trình tái tạo thượng bì nên đường ranh giới giữa vùng mặt và cổ có nguy cơ để lại sẹo và co kéo. Một lời khuyên là nên tránh sử dụng dung dịch Baker ở vùng cổ. Và những vùng xung quanh vùng peel nên sử dụng những công thức peel xâm nhập ít hơn (Gadelha và Costa 2009).
Thay đổi cấu trúc da
Như là kết quả của việc bị loại bỏ lớp thượng bì, lỗ chân lông giãn to có thể xuất hiện thoáng qua sau thủ thuật.Các sản phẩm mỹ phẩm như dầu và các chất khác nên ngưng trước khi peel vì chúng có thể làm giảm sự thấm của acid peel vì nó dẫn đến peel không đều, và ngay lập tức có thể đưa đến kết quả không tốt biểu hiện bởi sự thay đổi cấu trúc có thể thấy được trên da. Tương tự, thay đổi cấu trúc da có thể xảy ra do áp dụng kĩ thuật không phù hợp hoặc bệnh nhân phản ứng với hóa chất peel. Cần căn dặn bệnh nhân là nên tránh bôi những sản phẩm chứa dầu trong những ngày đầu sau thủ thuật. Nên bôi hóa chất đồng đều để tránh trường hợp peel quá sâu ở một số vùng. Nếu peel quá mức, vi mài da (microdermabrasion) hoặc peel lại vùng da bị ảnh hưởng có thể giúp giải quyết vấn đề (Tung và Rubin 2011).
Giảm sắc tố
Giảm sắc tố nhẹ có thể được dự đoán sau khi peel vì hóa chất được sử dụng trong thủ thuật sẽ gây bong da. Thường thì sẽ thấy ở vùng cằm, cổ nơi mà vùng da không được điều trị ở cổ nhìn không giống với da vùng được peel ở mặt. Khi các tế bào bị lột bỏ, lượng melanin trong thượng bì sẽ bị giảm xuống. Trong các loại peel thượng bì, giảm sắc tố có thể dự đoán trước được nhưng chỉ là biến chứng tạm thời (Spira 1974). Nếu toàn bộ thượng bì bị loại bỏ, thì các tế bào sắc tố cũng sẽ bị loại bỏ và cần một khoảng thời gian để những tế bào sắc tố mới di chuyển đến vùng thượng bì mới. Tuy nhiên giảm sắc tố vĩnh viễn là một biến chứng rất đáng sợ của peel, thường xảy ra ở người có da tối màu.Biến chứng này xảy ra khi hóa chất peel xâm nhập quá sâu so với mức mong muốn, nó xuất hiện một cách ngẫu nhiên và dễ bị chú ý. Ngoài ra, nhiễm trùng và sẹo có thể đưa đến giảm sắc tố và đặc biệt rõ ở bệnh nhân có phân loại da típ III trở lên. Vẻ bề ngoài mỏng manh được mô tả nhìn như “tượng ngọc thạch” chỉ được xuất hiện sau khi đỏ da nhạt dần và là nét đặc trưng của peel phenol do tác dụng gây độc trực tiếp lên tế bào sắc tố của phenol (Tung và Rubin 2011).
Tăng sắc tố
Biến chứng này có thể xảy ra sau peel nhưng thường xuất hiện từ 4 ngày đến 2 tháng sau thủ thuật (Gadel- ha và Costa 2009). Đây là biến chứng phổ biến nhất khi peel TCA và có thể kéo dài nếu không điều trị phù hợp. Ngoài ra một đều cũng rất quan trọng là phải dùng đèn wood để kiểm tra mức độ tăng sắc tố. Trong peel nông, biến chứng thường là tăng sắc tố hoặc rối loạn sắc tố thoáng qua, đặc biệt là ở bệnh nhân có da tối màu (Gadelha và Costa 2009) (hình 3). Những đốm nâu hoặc nevi có thể bộc lộ rõ hơn tạm thời vì những thương tổn ánh sáng ở vùng bên cạnh đã bị loại bỏ.Nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao bao gồm người có phân loại da típ III- VI, phân loại da típ I, II mà phơi nắng quá nhiều hoặc tắm nâu, người sử dụng những chất nhạy cảm ánh sáng, tiếp xúc với ánh nắng quá sớm sau thủ thuật mà không sử dụng chống nắng phổ rộng đầy đủ, sử dụng thuốc chứa estrogen như thuốc tránh thai dạng uống và liệu pháp thay thế hormone (Nikalji 2012). Ở bệnh nhân có tiền sử tăng sắc tố từ những tổn thương da khác sẽ có nguy cơ cao bị tăng sắc tố sau viêm và cần phải test bằng peel điểm trước khi tiến hành thủ thuật trên toàn bộ khuôn mặt ở những đối tượng này.
Hydroquinone 4-6% là chất được sử dụng nhiều nhất để điều trị tăng sắc tố và có thể phối hợp với tretinoin để làm tăng hiệu quả làm trắng khi da đã hồi phục (Tung và Ru- bin 2011). Nếu bệnh nhân quá nhạy cảm với hydroquinone có thể lựa chọn thay thế bằng vitamin C, kojic acid, và azelaic acid. Trong một vài trường hợp, một loại peel (glycolic acid, 30- 40%) có thể được dùng để làm tăng hiệu quả. Nếu bệnh nhân đang tồn tại những tăng sắc tố thì việc chuẩn bị da trước peel ít nhất 2-4 tuần và ngưng trước thủ thuật từ 3-5 ngày là rất quan trọng (Tung và Rubin 2011; Levy và Emer 2012). Trong bước chuẩn bị có thể sử dụng chất ức chế melamin như hydroquinone hoặc retinoic acid.
Để đạt kể quả tốt hơn, sử dụng các sản phẩm chăm sóc da tốt đóng vai trò quan trọng vì nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng da được peel sẽ trở lại tình trạng bình thường trong 2-6 tháng nếu không có điều trị duy trì. Bệnh nhân nên sử dụng chống nắng phổ rộng (UVA và UVB) trước và sau khi peel và nên tránh nắng nghiêm ngặt. Nên ngưng thuốc tránh thai trước khi peel vì nó có thể khởi phát những sự thay đổi sắc tố.
Sẹo
Sẹo là biến chứng đáng sợ nhất và có thể xuất hiện 2-3 tháng sau khi peel (Gadelha và Costa 2009). Các bác sĩ cần phải cảnh báo bệnh nhân về khả năng này trước khi tiến hành thủ thuật và cần phải nhận biết những bệnh nhân có nguy cơ cao xuất hiện sẹo. Đỏ da kéo dài có thể là dấu hiệu sớm của sẹo. Mặc dù đây không phải là biến chứng thường xuyên khi peel hóa chất nhưng đây là biến chứng khó điều trị nhất. May thay, sẹo hơi phì đại thường phổ biến hơn so với sẹo lồi, sẹo co rút, sẹo teo và sẹo hoại tử (Gadelha và Costa 2009). Sẹo lồi và sẹo co rút ảnh thưởng đến chức năng và vận động của khuôn mặt, do đó có thể can thiệp phẫu thuật kết hợp với nhiều điều trị khác để giảm tối đa biến chứng này. Nguy cơ sẹo lồi từ peel trung bình thường thấp, nhưng nếu xuất hiện thì thường thấy ở vùng da xương hàm dưới, quanh miệng, xương má, quai hàm, góc trong mí mắt, và những vùng chuyển động nhiều của khuôn mặt (Gadelha và Costa 2009). Tỉ lệ sẹo cao nhất là ở một phần ba dưới của khuôn mặt do liên quan đến vận động nói và ăn và do đây cũng là vùng có tỉ lệ can thiệp cao nhất. Nhớ rằng vùng cổ, trên xương ức và vùng dưới cằm thường có xu hướng bị sẹo lồi (Gadelha và Costa 2009). Sẹo teo thường không phổ biến khi peel phenol, và peel TCA có xu hướng tạo sẹo nhiều hơn so với phenol vì nó ăn mòn nhiều hơn (hình 4 và 5).Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm có tiền sử hút thuốc, phẫu thuật mặt gần đây, có sử dụng thủ thuật tái tạo da mặt xâm lấn gần đây (gồm dermabrasion hoặc laser trong vòng 6 tháng trở lại) (singh-Behl và Tung 2008), bôi nhiều lần TCA, và peel trung bình ở những vùng như xương hàm, cổ và ngực. Vì TCA có khả năng xâm nhập sâu vào lớp bì lưới, nên những bệnh nhân da mỏng nếu thực hiện peel TCA sẽ có xu hướng bị sẹo cao hơn. Một vài tác giả đã đưa ra giả thuyết rằng những bệnh nhân đã triệt lông bằng laser trong thời gian gần đây có thể có thời gian lành vết thương lâu hơn sau khi peel nông hoặc peel sâu vì quá trình tái tạo thượng bì xảy ra nhờ các cấu trúc phụ mà đã bị loại bỏ khi điều trị triệt lông trước đó (Nikalji 2012). Việc sử dụng isotretinoin cũng liên quan đến sự chậm lành vết thương và làm tăng tỉ lệ biến chứng sẹo. Nếu bệnh nhân có sử dụng isotretinoin thì phải ngưng ít nhất 6 tháng trước khi tiến hành peel trung bình hoặc peel sâu (Tung và Rubin 2011).
Những dấu hiệu đầu tiên của biến chứng sẹo là đỏ da kéo dài, ngứa, và chậm lành vết thương (cần nhiều hơn 2 tuần để tái tạo thượng bì). Nếu xuất hiện những triệu chứng trên thì nên điều trị ngay bằng cách bôi steroid mạnh, và không quên lưu ý đến biến chứng giãn mạch và teo da khi sử dụng steroid kéo dài. Nếu da bệnh nhân mất khoảng thời gian nhiều hơn 2 tuần để tái tạo thượng bì thì cần phải can thiệp mạnh bằng cách đắp gạc sinh học và kháng sinh (Tung và Rubin 2011). Nếu sẹo đã hình thành thì điều trị tốt nhất là tiêm steroid vào sẹo (triamcinolone 10-40 mg/cc). Massage, miếng sili- cone gel, đắp gạc ướt, và băng thấm steroid có thể được sử dụng để làm mềm những tổn thương sẹo cứng. Các thiết bị IPL và PDL có thể có ích trong trường hợp sẹo đỏ. Phẫu thuật cắt sẹo chỉ được thực hiện sau thời gian tối thiểu là 6 tháng (Gadelha và Costa 2009).
BIẾN CHỨNG RIÊNG CỦA TỪNG LOẠI PEEL
Mặc dù hiếm nhưng ngộ độc có thể xảy ra với resorcinol, salicylic acid, và phenol (Khunger 2008).Ngộ độc salicylic acid
Nếu một lượng lớn salicylic acid được hấp thu thì có thể gây ra độc tính toàn thân như ù tai, buồn nông, nôn, thở nhanh sâu, kích thích dạ dày ruột, và thậm chí là tai biến mạch máu não. Vì salicylic acid thường có trong các công thức Jessner và Combe, đây là những công thức peel thường được dùng do đó bệnh nhân nên lưu ý những triệu chứng kể trên và không được uống quá nhiều aspirin vì thuốc này có tác dụng hiệp lực với salicylic acid (Tung và Rubi 2011).Ngộ độc resorcinol
Resorcinol có ¼ sức mạnh của phenol và không nên bôi trên vùng diện tích rộng như là vùng lưng (Tung và Rubin 2011). Bác sĩ tiến hành nên hạn chế nồng độ của chất này trong dung dịch peel vì nếu như nó được bôi quá mức có thể đưa đến ngộ độc hệ thống ở nhiều mức độ khác nhau như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, tái nhợt, đổ mồ hôi lạnh, rung tay, chóng mặt, uể oải, đau đầu, chậm nhịp tim, liệt, khó thở, toát mồ hôi và căng thẳng (Tung và Rubin 2011). Sử dụng resorcinol liên tục có thể đưa đến phù niêm vì chất này có hoạt tính ức chế tuyến ức. Có thể bôi lặp lại resorcinol ở bệnh nhân có trọng lượng cơ thể thấp nhưng phải hết sức lưu ý (Nikalji 2012).Ngộ độc phenol
Phenol được chuyển hóa ở gan và bài tiết qua thận, do đó nó sẽ gây tổn thương hai cơ quan này khi sử dụng nồng độ cao. Từ 20-25% lượng phenol được hấp thụ bởi gan được liên kết với glucuronic acid và sulfuric acid và sau đó được bài tiết. 70-80% lượng phenol được hấp thụ bài tiết qua nước tiểu trong 15-20 phút sau khi bôi. Do đó, khi dùng peel phenol thì khuôn mặt phải được chia ra tối thiểu là 5 vùng, và khoảng cách thời gian bôi giữa các vùng là 15 phút để nồng độ phenol đã được hấp thu có đủ thời gian để bài tiết qua nước tiểu mà không gây độc lên tim (Glogau và Matarasso 1995; Stuzin 1998). Để tăng tốc độ đào thải phenol và giảm thiểu tối đa biến chứng hệ thống bệnh nhân nên được cấp dịch qua đường tĩnh mạch và được theo dõi tim bằng monitoring (Gross 1984).Ngộ độc tim là biến chứng toàn thân hay gặp nhất do peel phenol và peel với nồng độ phenol càng cao thì ngộ độc hệ thống càng nặng (Spira 1974). Ngộ độc hệ thống phenol có thể đưa đến rối loạn nhịp mặc dù chắc năng tim trước đó hoàn toàn bình thường. Sự xuất hiện của biến chứng rối loạn nhịp không phụ thuộc vào tuổi, giới tính, hoặc có hay không có sử dụng công thức có chứa xà phòng. 30 phút sau khi peel phenol, bệnh nhân có thể thấy tim đập nhanh, kèm theo sau đó là ngoại tâm thu thất, và nhanh thất (Nikalji 2012). Một vài bệnh nhân có thể tiến triển đến rung nhĩ (Velasco 2004; Truppman và Ellenby 1979). Để hạn chế biến chứng, không nên peel phenol trên diện tích rộng. Peel phe- nol khu trú phối hợp với một loại peel trung bình khác ở những vùng còn lại sẽ an toàn hơn so với việc peel phenol toàn bộ khuôn mặt.
Landau đã quan sát thấy sự xuất hiện của biến chứng lên tim khi peel sâu đúng kĩ thuật sẽ thấp hơn. Trong tổng số 181 bệnh nhân được điều trị với peel phenol trong thời gian ng- hiên cứu, có 12 bệnh nhân (6.6%) có rối loạn nhịp tim được ghi nhận trong khi làm thủ thuật. Cũng theo nghiên cứu này, rối loạn nhịp tim xuất hiện thường xuyên hơn ở những đối tượng bệnh nhân mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, và trầm cảm (Landau 2007).
Các triệu chứng như thở rít thanh quản, khàn giọng, và thở nhanh xuất hiện trong vòng 24h sau khi peel và giảm dần trong vòng 24h sau khi bắt đầu thở khí dung với sương aerosol (Klein và Little 1983). Những triệu chứng này xuất hiện có thể do phản ứng quá mẫn ở thanh quản và phải được điều trị ngay lập tức. Quá trình kích ứng thanh quản mạn tính ở những người hút thuốc lá sẽ làm tăng khả năng xuất hiện của biến chứng này. Tuy nhiên biến chứng này có thể dự phòng bằng cách sử dụng kháng histamine trước thủ thuật (Nikalji 2012).
Biến chứng trong khi peel phe- nol được tóm tắt ở bảng 3.
KẾT LUẬN
Những kiến thức về peel là rất cần thiết phải nắm vững và tránh để xảy ra không chỉ những biến chứng lớn và còn phải tránh những biến chứng thường gặp nữa. Nếu các biến chứng vẫn xuất hiện, thì bác sĩ phải có đủ khả năng xử lí theo phương pháp tốt nhất để tránh những kết quả không mong muốn. Chương này được thiết kế để giúp cho những bác sĩ chuyên về da có thể tỉnh táo phát hiện những dấu hiệu cần thiết trong quá trình tiến hành thủ thuật. Phải nhớ rằng luôn báo trước cho bệnh nhân những biến chứng có thể xảy ra khi peel và luôn biết cách điều chỉnh kì vọng bệnh nhân so với kết quả thực tế có thể đạt được. Đối với những bác sĩ mới vào nghề thì cần phải thực hiện đúng chỉ định, không tìm kiếm kết quả nhanh chóng. Thà làm bệnh nhân thất vọng với kết quả chưa được tốt còn hơn là làm bệnh nhân thất vọng vì những biến chứng khó điều trị như sẹo sâu.GHI NHỚ
- Biến chứng thường xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân có da tối màu, với một số loại hóa chất peel và do tiếp xúc với ánh sáng. Các biến chứng rất đa dạng từ kích ứng nhẹ, tăng sắc tố tạm thời cho đến sẹo kéo dài.
- Bước đầu tiên để tránh biến chứng là nhận diện được những đối tượng bệnh nhân có nguy cơ cao, do đó các biến chứng có thể được dự đoán, dự phòng và nếu có xảy ra sẽ được điều trị sớm nhất.
- Luôn nhớ là phải luôn báo trước cho bệnh nhân những biến chứng có thể và điều chỉnh kì vọng của bệnh nhân về đúng với kết quả thực tế có thể đạt được.
- Đối với những bác sĩ mới vào nghề, nên sử dụng đúng chỉ định và tránh nôn nóng tìm kiếm kết quả nhanh chóng.
- Thà làm bệnh nhân thất vọng với kết quả chưa được tốt còn hơn là làm bệnh nhân thất vọng vì những biến chứng khó điều trị như sẹo sâu.
J Cutan Aesthet Surg.
2010;3(3):186–8.
Brody HJ. Complications of chemical resurfacing.
Dermatol Clin. 2001;19:427–38. vii–viii.
Camacho FM. Medium-depth and deep chemical peels. J Cosmet Dermatol. 2005;4:117–28.
Dailey RA, Gray JF, Rubin MG, Hildebrand PL, Swanson NA,Wobig JL, WilsonDJ, Speelman
P. Histopathologic changes of the eyelid skin following trichloroace- tic acid chemical peel. Ophthal Plast Reconstr Surg. 1998;14(1):9–12.
Dmytryshyn JR, Gribble MJ, Kas- sen BO. Chemical face peel complicated by toxic shock syndrome. A case report. Arch Otolaryngol. 1983;109:170–1.
Fischer TC, Perosino E, Poli F, Vi- era MS, Dreno B, Cos- metic Dermatol- ogy European Expert Group. Chemical peels in aesthetic dermatology: an up- date 2009. J Eur Acad Dermatol Vene- reol. 2010;24:281–92.
Gadelha AR, Costa IMC. Derma- tologia cirurgia dermatológica. 2nd ed. São Paulo: Atheneu; 2009.
Glogau RG, Matarasso SL. Chemical Peels. Dermatol Clin. 1995;13(2):263–74.
Gross BG. Cardiac arrhythmias during phenol face peel- ing. Plast Re- constr Surg. 1984;73:590–4.
Khunger N. Standard guidelines of care for chemical peels.
Indian J Dermatol Venereol Lep- rol. 2008;74:5–12.
Khunger N. Complications. In: Step by step chemical peels. 1st ed. New Delhi: Jaypee Medical Publishers; 2009.
p. 280–97.
Klein DR, Little JH. Larynge- al edema as a complication of chem- ical peel. Plast Reconstr Surg. 1983; 71(3):419–20.
Landau M. Cardiac complica- tions in deep chemical peels.
Dermatol Surg. 2007;33:190–3. Landau M. Chemical peels. Clin
Dermatol. 2008;26:200–8. Levy LL, Emer JJ. Complications of minimally in- vasive cosmetic procedures: prevention and management.
J Cutan Aesthet Surg.
2012;5(2):121–32.
Litton C, Trinidad G. Complica- tions of chemical face peeling as evalu- ated by a questionnaire. Plast Reconstr Surg. 1981;67:738–44.
LoVerme WE, Drapkin MS, Courtiss EH, Wilson RM. Toxic shock syndrome after chemical face peel. Plast Reconstr Surg. 1987;80:115–8.
Matarasso SL, Glogau RG. Chemical face peels. Dermatol Clin. 1991;9(1):131–50.
Mendelsohn JE. Update on chemical peels. Otolaryngol Clin N Am. 2002;35(1):55–71.
Monheit GD. Chemical peels.
Skin Therapy Lett. 2004;9:6–11.
Nikalji N, Godse K, Sakhiya J, Pa- til S, Nadkarni
N. Complications of medium depth and deep chemical peels. J Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):254–60.
Rendon MI, Berson DS, Cohen JL, Roberts WE, Starker I, Wang B. Ev- idence and considerations in the appli- ca- tion of chemical peels in skin disor- ders and aesthetic resurfacing. J Clin Aesthet Dermatol. 2010;3 (7):32–43.
Schürer NY, Wiest L. Chemical peels. Hautarzt. 2006;57 (1):61–76.
quiz 77.
Singh-Behl D, Tung R. Chemical peels. In: Alam M, Gladstone HB, Tung RC, (eds). Requisites in Derma- tology: Cosmetic dermatology. Philadelphia, PA: Elsevier Ltd; 2009:83.
Spira M, Gerow FJ, Hardy SB. Complications of chemical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1974;54:397–403.
Stuzin JM. Phenol peeling and the history of phenol peel- ing. Clin Plast Surg. 1998;25(1):1–8.
Truppman ES, Ellenby JD. Major electrocardiographic changes during chemical face peeling. Plast Reconstr Surg. 1979;63:44.
Tung RC, Rubin MG. Procedures in cosmetic dermatology series: Chem- ical Peels. St Louis, MO. 2nd Ed. Saun- ders Elsevier. 2011.
Uday K, Sushil P, Nischal K. Sun- screens. In: Handbook of dermatologi- cal drug therapy. 1st ed. New Delhi: El- sevier; 2007. p. 299–304.
Velasco MVR, Okubo FR, Ribeiro ME, Steiner D, Bedin
V. Rejuvenescimento da pele por peeling químico: enfoque no peeling de fenol. An Bras Dermatol. 2004;79(1):91–9.





0 nhận xét:
Đăng nhận xét