LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

PEEL HÓA CHẤT Ở VÙNG DA NGOÀI MẶT (PHẦN 1)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

TÓM TẮT

Peel da mặt được sử dụng rộng rãi trong thực hành da liễu không chỉ cho mục đích thẩm mỹ mà còn cho mục đích điều trị bệnh. Kĩ thuật peel da vùng thân (peel body) dựa trên cơ sở kiến thức của peel da vùng mặt và áp dụng lên các vùng da khác của cơ thể trong khi vẫn tôn trọng những đặc tính khác biệt giữa của vùng da khác trên cơ thể với vùng da mặt.

Sử dụng đúng hóa chất và kĩ thuật là yếu tố tiên quyết giúp mang lại hiệu quả và tính an toàn trong peel da hóa chất ở vùng thân mình. Để đạt được kết quả điều trị tốt nhất, người ta thường chỉ dùng loại peel nông và peel rất nông lớp sừng để điều trị ở vùng da ở thân mình. Khi peel nên tiến hành peel nhiều liệu trình và peel dần dần theo đúng chỉ định.

Những nguyên tắc này sẽ giúp tránh xuất hiện đỏ da kéo dài, tăng sắc tố sau viêm, chậm lành vết thương và thậm chí là hoại tử da (hoại tử da sẽ để lại sẹo xấu).

NỘI DUNG

  • Giới thiệu
  • Tính chất riêng biệt của những vùng da ngoài da mặt
  • Chăm sóc ban đầu trước khi peel da ở vùng thân mình.
  • Các hóa chất peel chính và chỉ định
  • Salicylic acid
  • Dung dịch Jessner
  • Resorcin
  • Tretinoin
  • 5-Fluorouracil
  • Glycolic acid
  • Trichloroacetic acid
  • Thioglycolic acid
  • Chăm sóc đặt biệt sau thủ thuật Biến chứng
  • Kết luận Ghi nhớ Tham khảo

GIỚI THIỆU

Mặc dù nhu cầu sử dụng các công nghệ mới ngày càng tăng, việc sử dụng các hóa chất để peel da mặt và cơ thể vẫn đóng một vai trò quan trọng trong ngành da liễu do tính hiệu quả, an toàn, tính thực tiễn và giá thành thấp của phương pháp này. Tuy nhiên, hầu hết những tài liệu khoa học chủ yếu nhấn mạnh vào phương pháp peel da ở vùng da mặt và peel hóa chất đối với các vùng da ngoài da mặt chỉ được khuyến cáo sử dụng trong một số bệnh lí cụ thể cũng như để hỗ trợ các phương pháp điều trị khác.

Chương này sẽ hệ thống những thông tin hiện có về kĩ thuật, chăm sóc và hướng dẫn cho phương pháp peel da vùng ngoài mặt này.

Tính chất riêng biệt của những vùng da ngoài da mặt

Vùng da ngoài mặt có một vài đặc tính cần lưu ý như sau.
Diện tích bề mặt da rộng: đây là yếu tố chính đóng vai trò trong việc ngộ độc hệ thống do hấp thụ hóa chất qua da. Do đó khuyến cáo trước khi điều trị phải phân chia thành từng mảng nhỏ theo độ dài, và tính an toàn của hóa chất peel. Một vài hóa chất mà tác dụng của nó phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc và cần phải trung hòa. Do đó khi peel ở vùng da lớn cần phải chuẩn bị bề mặt điều trị để không ảnh hưởng đến quá trình trung hòa.

Mức độ bong da và hình thành mài nhỏ: vài ngày sau khi peel da vùng thân, chúng ta có thể thấy hiện tưởng bong vảy ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc độ sâu của điều trị. Quá trình bong vày này kéo dài hơn so với peel ở da mặt. Đặc điểm này đặc biết có giá trị đối với peel nông da vùng thân khi toàn bộ thượng bị được điều trị.

Thời gian hồi phục: thời gian hồi phục dài hơn khi peel trên da vùng thân do các đặc điểm sau:
  • Số lượng đơn vị nang lông tuyến bã: quá trình lành vết thương sau peel hóa chất diễn ra thông qua sự tăng sinh thượng bị lân cận và sự di cư của các tế bào gốc hiện diện trong các đơn vị nang lông tuyến bã. Vì vùng da ngoài mặt có ít các thành phần phụ (bao gồm đơn vị nang lông tuyến bã) hơn so với da mặt (ít hơn thậm chí đến
  • 30 lần ở vùng cổ, và 40 lần ở mặt lưng bàn tay và cánh tay), do đó cần phải lưu ý đến độ sâu của peel để tránh hoại tử sâu vào da (Kede 2009).
  • Độ dày lớp thượng bì: da càng mỏng, thì hóa chất peel thấm vào càng nhanh. Đều này đặc biệt đúng với đối tượng bệnh nhân là người lớn tuổi vì da sẽ mỏng dần theo độ tuổi. Cần phải lưu ý là luôn chọn đúng loại hóa chất peel để sử dụng.
  • Cung cấp máu: lượng máu cung cấp giảm như ở vùng chi dưới sẽ dễ đưa đến biến chứng chậm lành vết thương. Khi điều trị ở những vùng này nên chỉ định peel nông hoặc peel rất nông để giảm tối đa khả năng xảy ra biến chứng.
Lựa chọn đúng loại hóa chất peel và áp dụng đúng kĩ thuật là các yếu tố quyết định đến sự an toàn và hiệu quả khi peel da ở các vùng khác của cơ thể. Để thu được hiệu quả điều trị tốt nhất đối với những vùng da ngoài mặt, thì peel rất nông ở lớp sừng thượng bị và peel nông ở lớp thượng bì là những lựa chọn phù hợp nhất. Peel body nên thực hiện theo nhiều liệu trình và tiến hành dần dần theo đúng chỉ định (Landau 2008).

Những nguyên tắc này sẽ giúp tránh xuất hiện đỏ da kéo dài, tăng sắc tố sau viêm, chậm lành vết thương và thậm chí là hoại tử da (hoại tử da sẽ để lại sẹo xấu).

Chăm sóc ban đầu trước khi peel da ở vùng thân mình
Những bệnh nhân có tiền sử bệnh không tốt, đặc biệt liên quan đến các phản ứng không mong muốn trong những lần điều trị trước như dị ứng, sẹo lồi, bệnh da mạn tính (viêm da dầu và viêm da cơ địa), sử dụng thuốc uống như isotretinoin thì cần phải được chú ý. Ngoài ra cũng cần phải hết sức cẩn thận với những bệnh nhân có tiền sử tăng sắc tố sau viêm, đặc biệt là những người có phân loại da Fitzpatrick từ IV, V, VI.

Thủ thuật này có chống chỉ định tương đối ở những người có điều trị liệu pháp phóng xạ trên vùng da của cơ thể, do khả năng các cấu trúc phụ của da đã bị phá hủy dẫn tới làm đình trệ quá trình tái tạo thượng bì. Trong những trường hợp này, cần phải kiểm tra sự tồn tại của những sợi lông mảnh để đảm bảo các thành phần phụ của da vẫn toàn vẹn. Nếu tiến hành peel ở bệnh nhân có dùng isotretinoin trong vòng 6 tháng trở lại, thì thời gian lành vết thương sẽ dài hơn và có thể để lại sẹo.

Nên tránh tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời trong những ngày sau khi làm thủ thuật để hạn chế nguy cơ kích hoạt các tế bào melanocyte, tránh tình trạng tăng sắc tố sau viêm.
Chuẩn bị da trước thủ thuật không thực sự cần thiết trong các peel rất nông, nhưng có thể thực hiện với mục đích ngăn ngừa rối loạn sắc tố. Việc chuẩn bị da nên bắt đầu trước khi làm thủ thuật ít nhất 14 ngày. Nên sử dụng các chất khử sắc tố như hy- droquinone và kojic acid phối hợp với retinoids hoặc alpha hydroxyl acid. Những chất này sẽ giúp làm vết thương nhanh lành, hạn chế tăng sắc tố, đặc biệt là những người có phân loại da theo Fitzpatrick IV, V, và VI. Những loại thuốc kể trên nên ngưng từ 3-5 ngày trước thủ thuật để hạn chế
ảnh hưởng đến chất peel tránh hóa chất peel xâm nhập xâu hơn ngoài sự mong đợi vào da.

Để điều trị những tổn thương thượng bì có mức độ dày sừng cao hơn như dày sừng tuyến bã hoặc dày sừng ánh sáng, nên sử dụng đốt điện và áp lạnh nitrogen lỏng như là những điều trị hỗ trợ trước thủ thuật để mang lại kết qua lâm sàng tố hơn.

Cuối cùng là không nên cạo lông ở những vùng da được điều trị ít nhất 5 ngày sau thủ thuật để tránh gây tổn thương thượng bì, viêm da tiếp xúc dị ứng hoặc viêm da kích ứng nguyên phát. Những vấn đề này sẽ đưa đến mất sự toàn vẹn của da.

Tại thời điểm tiến hành thủ thuật: Điều quan trọng cần lưu ý là lựa chọn đúng loại chất rửa mặt: lotion rửa mặt nhẹ, alcohol-ether hoặc ace- tone tinh khiết. Sự lựa chọn này quết định đến khả năng xâm nhập nhiều hơn hay ít hơn của hóa chất peel, đặc biệt đối với những chất có khả năng thấm vào thượng bì cao hơn như TCA.

CÁC HÓA CHẤT PEEL CHÍNH VÀ CHỈ DỊNH

Salicylic acid
Salicylic acid là một loại beta hydroxy acid được sử dụng ở nồng độ 20% và 30% trong dung môi ethanol như là một hóa chất peel nông. Acid này có tác dụng tiêu còi mụn, li sừng, và kháng viêm và được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá, dày sừng nang lông, và tăng sắc tố sau viêm. Ngoài ra hiệu quả điều trị của nó còn được thấy trong điều trị lão hóa da ánh sáng nhẹ, cấu trúc da không đều, và những nếp nhăn nhỏ (Peterson và Goldman 2011). Phác đồ điều trị có thể từ ba đến sáu liệu trình với khoảng cách thời gian từ 15-30 ngày tùy thuộc vào chỉ định lâm sàng và mức độ tổn thương. Thường thì sau khi bôi sal- icylic acid 1-3 phút sẽ xuất hiện lớp tinh thể trắng, đây là dấu hiệu để đánh giá sự đồng nhất khi bôi (hình 1a, b).

Sau đó bệnh nhân sẽ có cảm giác bỏng rát trong vài phút và thấy tê nhẹ ở vùng điều trị. Có thể thấy các điểm frosting (level 1) ở những sang thương mụn viêm. Acid này không cần phải tiến hành trung hòa. Lớp kết tủa trắng quá mức được loại bỏ sau 5-10 phút với nước và lotion rửa mặt. Trong 3-5 ngày sau đó có thể xuất hiện vảy trắng rất mỏng.

Các triệu chứng ngộ độc salicyl- ic mặc dù hiếm có nhưng có thể xảy ra từ nhẹ (thở nhanh, ù tai, không nghe được, chóng mặt, buồn nôn, nôn và đau bụng) cho đến nặng (những thay đổi ở hệ thần kinh trung ương như trong ngộ độc rượu). Do đó, chỉ nên dùng salicylic trên một vùng bề mặt nhỏ như cổ và vùng trước xương ức (Brubacher và Hoffmann 1996). Gầm đây có xuất hiện một công thức mới chứa salicylic acid 30% trong dung môi polyethylene glycol (PEG), dung dịch này đã được sử dụng và mang lại hiệu quả lâm sàng tốt ở những tình nguyện viên có tình trạng da bị già hóa, kết quả cho thấy có sự cải thiện cấu trúc da, làm biến mất nhân mụn và mụn viêm ở những bệnh nhân có mụn trứng cá. Nhờ đặc tính ít bay hơi, PEG có ái lực cao hơn với salicylic acid và do đó chỉ nhả salicylic acid ra theo lượng nhỏ ở lớp bề mặt của thượng bì. Ái lực cao này giúp acid ít bị hấp thu hơn và do đó ít gây ngộ độc hệ thống cũng như giảm cảm giác bỏng rát khi bôi (Dainichi 2008). Mặt khác, công thức salicylic acid trong dung môi phenol có tính ưa lipid cao hơn nên có ái lực cao với các đơn vị nang lông tuyến bã hơn nên sẽ làm khô da tốt hơn cho những bệnh nhân bị mụn trứng cá trên vùng thân (Peterson và Goldman 2011).

Dung dịch Jessner

Dung dịch Jessner chứa 14% salicylic acid, 14% lactic acid, và 14% resorcin trong ethanol. Dung dịch có hoạt tính li sừng, kháng viêm, và làm sáng da. Tùy thuộc vào số lớp dung dịch được bôi lên bệnh mặt và thể tích được sử dụng, peel da bằng dung dịch Jessner có thể được phân loại từ peel rất nông đến peel trung bình. Khả năng thấm vào da của dung dịch được quyết định một phần nhờ hoạt tính li thượng bì của lactic acid (mặc dù ở nồng độ thấp) và phụ thuộc vào nồng độ pH của dung dịch.

Dung dịch này được sử dụng để điều trị hỗ trợ đối với tình trạng mụn trứng cá viêm ở vùng tăng sắc tố trên thân (trước và sau), đặc biệt ở người có phân loại da tối màu. Trong những trường hợp này, thường nên sử dụng gạc để bôi và tạo một áp lực lên da đặc biệt là vùng da có lớp sừng dày và có nhiều cấu trúc tuyến bã nhờn. Peel dung dịch Jessner còn được chỉ định để điều trị trẻ hóa da vùng cổ, nhưng với số lớp bôi ít hơn (Peterson và Goldman 2011; Brody 1997; hình 2a- c).

Peel dung dịch Jessner ở bệnh nhân thường được dung nạp tốt,
chỉ gây cảm giác châm chính nhẹ đến vừa và kéo dài trong khoảng từ 3 dến 10 phút. Sau khi bôi sẽ xuất hiện một lớp trắng nhẹ trên da do sự kết tủa của salicylic acid, sau đó da sẽ trở nên đỏ với nhiều mức độ khác nhau và xuất hiện vùng frosting nhẹ (level 0-1). Khuyến cáo nên đợi 3-4 phút rồi mới bôi lớp dung dịch mới để có thể đánh giá được mức độ peel đã được tiến hành. Phương pháp peel này không cần phải trung hòa acid. Salicylic acid lắng đọng có thể rửa bằng nước hoặc lotion rửa mặt. Sau đó xuất hiện sự bong tróc các mảng trắng đến nâu từ 3-5 ngày. Nên sử dụng dung dịch Jess- ner từ 3 đến 6 liệu trình, với khoảng cách thời gian giữa các liệu trình là 2 tuần hoặc 1 tháng.

Peel Jessner được đánh giá là rất an toàn: phản ứng dị ứng (được quyết định bởi mức độ nhạy cảm với thành phần resorcin) có tỉ lệ thấp và ít gây ngộ độc do nồng độ thấp của
resorcin và salicylic acid trong công thức. Để tăng thêm tính an toàn, nên tiến hành peel luân phiên giữa các vùng được điều trị và giữa các thủ thuật. Cách này cũng có thể áp dụng cho tất cả các loại peel mà hóa chất peel có thể hấp thu vào hệ thống mạch máu (bảng 1).

Hình 1: (a, b) Peel salicylic acid 30% trong dung môi ethanol trong điều trị mụn trứng cá viêm. Hình (b) cho thấy lớp kết tủa trắng của acid salicylic.

Hình 2: (a-c) Peel dung dịch Jessner (3 lớp) trong điều trị lão hóa ánh sáng mức độ vừa.
(a) trước khi làm thủ thuật, (b) sau liệu trình đầu tiên (ngày thứ 14), và (c) sau 2 liệu trình (ngày thứ 400.

Bảng 1: điều trị luân phiên trong peel body

Điều trị luân phiên- peel body

Khoảng thời gian

Vùng điều trị

Loại peel

Khoảng thời gian/ số liệu trình

Tuần đầu

Ngực và cổ

Dung dịch Jessner, glycolic acid

Hàng tháng hoặc mỗi 2 tháng/ 3-6

Tuần thứ 2

Vùng lưng bàn tay và cẳng tay

TCA, dung dịch Jessner

Tuần thứ 3

Vai và cánh tay

Salicylic acid

Tuần thứ 4

Đùi và cẳng chân

Thioglycolic acid


Resorcin

Resorcin là một chất an mòn thuộc nhóm phenol, tan cả trong nước và alcohol, được sử dụng trong dung dịch tẩy rửa hoặc hồ dán ở nồng độ từ 10% đến 50%. Trong peel nông body đặc biệt là peel trị mụn ở vùng lưng trước và sau, thì sử dụng resorcin ở nồng độ thấp hơn từ 20% đến 30% sẽ hợp lí hơn. Nó có thể sử dụng phối hợp với sulfur, cả 2 chất đều ở nồng độ 24% trong dung dịch nước cất (Kede 2009). Peel loại này cũng được chỉ định điều trị rối loạn sắc tố, nếp nhăn nhỏ, và tăng sắc tố sau viêm. Cân nhắc việc bôi thử trước khi peel vì nó có thể gây viêm da tiếp xúc (Kede 2009). Đối với peel resorcin ở nồng độ cao hơn và trên vùng có diện tích lớn cần phải chăm sóc đặc biệt.

Tretinoin

Tretinoin còn được gọi là reti- noic acid là một loại thuốc thuộc nhóm retinoids được sử dụng để peel nông bề mặt. Công thức peel này được pha chế trong một dung dịch màu vàng có tên là propylene glycol; acid được sử dụng ở nồng độ từ 5% đến 12%. Để tăng hiệu quả thẩm mỹ có thể thêm thuốc nhuộm vào trong công thức. Loại peel này được sử dụng rộng rãi trong thẩm mỹ da nhờ có nhiều tác dụng phối hợp như: khả năng làm mỏng và săn chắc lớp sừng thượng bì, khôi phục những tế bào không điển hình của thượng bì, kích thích tân sinh collagen ở lớp bì, tăng lắng đọng glycosaminoglycan, kích thích tái tổ chức các sợi collagen đã bị tổn thương do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, và loại bỏ và phân tán những túi chứa melanin trong các tế bào sừng (keratinocyte) (Kede 2009). Tretinoin được sử dụng chủ yếu để điều trị lão hóa da và những thay đổi da do ánh sáng mặt trời (ví dụ: đốm da Civatte) (Landau 2008), trong điều trị các tình trạng như viêm nang lông sau cạo râu, mụn, vết côn trùng cắn, và nám má không ở vùng mặt, và tổn thương do chấn thương đặc biệt là ở vùng thân và chi. Trong điều trị mụn, có thể phối hợp thêm với việc sử dụng loại retinoin dùng ở nhà để làm tăng việc loại bỏ mụn cũng như ngăn hình thành dày sừng nang lông.

Peel retinoin thường được sử dụng sau thủ thuật vi mài da (micro- dermabrasion) với tinh thể aluminum oxide (trong thủ thuật này lớp thượng bị được loại bỏ theo cơ chế vật lý). Phương pháp phối hợp này làm tăng hiệu quả điều trị do tăng khả năng thấm vào sâu hơn của acid (Hexsel 2005). Chỉ định điều trị với peel này có thể được mở rộng để điều trị những vết rạn da cũ (có màu trắng ngọc trai) cũng như những vết rạn mới (có màu hồng). Với chỉ định này thì nồng độ retinoic acid nên dùng là 10% bôi và giữ trong khoảng thời gian từ 4-6 h, sau đó rửa với nước (Kede 2009). Peel này được khuyến khích sử dụng sau những thủ thuật như đông điện hoặc cryotherapy (áp lạnh bằng nitro- gen lỏng) trong điều trị các bệnh tăng sinh thượng bì như dày sừng tuyến bã, dày sừng ánh sáng, mụn thịt, tăng sản tuyến bã, và bệnh sẩn đen (papulosis nigricans). Các nghiên cứu cho thấy rằng sự phối hợp này giúp vết thương nhanh lành hơn (Hung 1989), làm đồng nhất hóa tone màu của da và cải thiện chất lượng của da sau đó.

Peel tretinoin thường không đau và dễ thực hiện. Acid được bôi bằng tay đeo gang. Thời gian trung bình là khoảng 3-4 ngày da sẽ bong vảy khô và tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc với acid. Khoảng cách giữa các liệu trình có thể là mỗi hai tuần hoặc mỗi tháng. Đây là thủ thuật hoàn toàn không đau vì tretinoin không có pH acid đủ để gây đông vón protein ở da. Vì retinoic acid nhạy cảm ánh sáng do đó nên bôi vào buổi chiều tối trong ngày và giữ acid trên mặt trong ít nhất 4-6 tiếng (Landau 2008).


Để đạt kết quả điều trị tốt nhất, có thể tăng dần thời gian tiếp xúc với acid trong mỗi liệu trình từ 4-12h (tối đa). Không khuyến cáo sử dụng loại peel này ở phụ nữ đang có thai và đang trong thời gian cho con bú (hình 3a-c).


Hình 3: (a-c) Peel tretinoin 5% trong dung môi propylene glycol trong điều trị tăng sắc tố sau viêm do chấn thương. (a) Trước thủ thuật, (b) ngay sau khi làm thủ thuật, và (c) sau liệu trình đầu tiên (ngày thứ 14).

THAM KHẢO

Anitha B. Prevention of compli- cation in chemical peeling.
J Cut Aesthet Surg.
2010;3(3):186–7.
Brody HJ. Superficial peeeling. In: Brody HJ, editor. Chemical peel- ing and resurfacing. 2nd ed. St Louis: Mosby Year Book; 1997. p. 73–108.
Brubacher JR, Hoffmann RS. Salicylism from topical salicylates: re- view of the literature. J Clin Toxicol. 1996;34(4):431–6.
Callender VD, St Surin-Lord S, Davis EC, et al. Post- inflammatory hy- perpigmentation. Etiologic and thera- peutic considerations. Am J Clin Der- matol. 2011; 12(2):87–99.
Clark E, Scerri L. Superficial and médium-depth chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:209–18.
Coleman WP, Futrell JM. The gly- colic acid tri- chloroacetic acid peel. J Dermatol Surg Oncol. 1994;20(1):76– 80.
Cook K, Cook JR. Chemical peel of nonfacial skin using glycolic acid gel augmented with TCA and neutral- ized based on visual staging. Dermatol Surg. 2000;26:11.
Costa IMC, Gomes CM. Peelings médios/Peles clara e negra/Áreas extrafaciais. In: Mateus A, Palermo E, edi- tors. Cosmiatria e laser: prática no consultório médico. 1ath ed. São Paulo: AC Farmacêutica; 2012. p. 167–
74. Costa A, Basile AVD, Medeiros VLS, Moisés TA, Ota FS, Palandi JAC. Peel- ing de gel de ácido tioglicólico 10%: opção segura e eficiente na pigmen- tação infraorbicular constitucion- al. Surg Cosmet Dermatol. 2010; 2(1):29–33.
Dainichi T, Ueda S, Imayama S, Furue M. Excellent clin- ical results with a new preparation for chemical peeling in acne: 30% salicylic acid in polyethylene glycol vehi- cle. Derma- tol Surg. 2008;34:891–9.
Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera MS, et al. Chemical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2010;24:281–92.
Hexsel D, Mazzuco R, Dal’forno T, Zechmeister.
D. Microdermabrasion fol- lowed by a 5% retinoid acid chemical peel vs. a 5% retinoid acid chemical peel for the treatment of photoaging – a pilot study. J Cosmet Dermatol. 2005;4(2):111–6.
Hung VC, Lee JY, Zitelli JA, Heb- da PA. Topical tretinoin and epithe- lial wound healing. Arch Dermatol. 1989;1255:65–9.

Katz BE. The fluor-hydroxy pulse peel: a pilot evaluation of a new superficial chemical peel. Cosmet Der- matol. 1995;8:24–30.
Kede MPV. Dermatologia estéti- ca. São Paulo: Ed Atheneu; 2009.
Landau M. Chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:200– 8.
Marrero GM, Katz BE. The new fluor-hydroxy pulse peel. A combina- tion of 5-fluoruracil and glycolic acid. Dermatol Surg. 1998;24:973–8.
Monheit GD. The Jessner’s – tri- chloroacetic acid peel. An enhanced medium – depth chemical peel. Der- matol Clin. 1995;13:277–83.
Peterson JD, Goldman MP. Reju- venation of the aging chest. A review and our experience. Dermatol Surg. 2011;37:555–71.
Takenaka Y, Hayashi N, Takeda M, et al. Glycolic acid chemical peeling improves inflammatory acne erup- tions through its inhibitory and bac- tericidal effects on Propionibacterium acnes. J Dermatol. 2012;39:350–4. Tung CR, Rubin MG. Procedures in cosmetic dermatology series: body peeling. In: Chemical peels, vol. 12. 2nded. Philadelphia: Elsevier; 2011.
p. 117–22.
Yokomizo VMF, Benemond TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel- ings químicos: revisão e aplicação prática. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(1):58–68.
Zanini M. Trichloroacetic acid – a new method for an old acid. Med Cut Iber Lat Am. 2007;35(1):14–7.

Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét