LOVE YOUR SKIN WITH EVIDENCE-BASED COSMETOLOGY

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

 PEEL HÓA CHẤT Ở VÙNG DA NGOÀI MẶT (PHẦN 2)

Translate by Bs.CK1 Phạm Tăng Tùng

Đọc thêm: PEEL HÓA CHẤT Ở VÙNG DA NGOÀI MẶT (PHẦN 1)

Fluorouracil

5 fluorouracil (5-FU) lầ một base pyrimidine được florite hóa thuộc nhóm kháng chuyển hóa hoạt động như một chất ổn định tế bào trong điều trị những bệnh ung thư và tiền ung thư da.
Phương pháp peel với chất này còn được gọi là fluorouracil-pulsed peel và là sự phối hợp của 2 loại chất peel khác nhau, thường là phối hợp thêm với dung dịch Jessner hoặc gly- colic acid. Bước đầu tiên là bắt đầu peel với dung dịch Jessner hoặc gly- colic acid 70% ở dạng gel lỏng. Nếu bắt đầu với dung dịch Jesner thì nên bôi một hoặc hai lớp đến khi đạt được đỏ da bước đầu (level 0) hoặc có sự kể tủa của salicylic, sau đó không cần phải trung hòa. Nếu là sử dụng glycolic acid thì phải trung hòa với nước hoặc sodium bicarbonate. Bước tiếp theo bôi dung dịch 5-FU 5% trong propyl- ene glycol hoặc dạng kem lên bề mặt da (không quá 500 cm2, khoảng 23 x 23 cm) và lưu lại trên da từ 6-12h.

Thủ thuật này được thực hiện hàng tuần hoặc mỗi 2 tuần, với tổng 8 liệu trình nếu điều trị dày sừng ánh sáng đa điểm. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Katz (1995), phối hợp 5-fluorouracil với peel dung dịch Jessner giúp làm giảm 86% tổn thương được nghiên cứu; trong một nghiên cứu khác , Marrero (1998) đã thu được kết quả tốt nhất là giảm được 92% tổn thương khi phối hợp với gly- colic acid 70%.

Glycolic acid

Glycolic acid (GA) có nguồn gốc tự nhiên trong mía, được chiết xuất trong phòng nghiên cứu để sử dụng như là hóa chất peel. Đây là loại acid có kích thước phân tử nhỏ nhất trong các acid thuộc nhóm alpha hydroxy acid. Do đó, so với những loại acid cùng nhóm khác, glycolic acid có khả năng xâm nhập vào da dễ dàng hơn. GA có thể được sử dụng để peel nông hoặc peel rất nông tùy thuộc vào nồng độ được sử dụng, độ pH của công thức và thời gian tiếp xúc với bề mặt da (Clark và Scerri 2008; Fischer 2010). Ở nồng độ 70%, pH thấp hơn 1.0 GA có thể có hoạt tính peel trung bình tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc với bề mặt da. Nồng độ GA càng cao, pH càng thấp, và thời gian tiếp xúc với da càng lâu thì peel sẽ càng sâu. Đều này có được do đặc tính sinh khả dụng cao hơn của hóa chất trong những điều kiện trên (Kede 2009).

Peel này được chỉ định như là điều trị hỗ trợ đối với tình trạng lão hóa ánh sáng ở vùng ngoài mặt, mụn viêm, sẹo mụn teo, và trong những rối loạn sắc tố như melasma và tăng sắc tố sau viêm (Clark và Scerri 2008; Take- naka 2012; Callender 2011). Ngoài ra cũng có thể đạt được kết quả lâm sàng tốt khi điều trị viêm nang lông và viêm giả nang lông ở vùng bẹn và mông. Tác dụng của GA có được là do nó có hoạt tính làm săn chắc lớp sừng, làm dày thượng bì, và tăng lắng đọng collagen và mucin ở lớp bì.

Hình 3: (a-c) Peel tretinoin 5% trong dung môi propylene glycol trong điều trị tăng sắc tố sau viêm do chấn thương. (a) Trước thủ thuật, (b) ngay sau khi làm thủ thuật, và (c) sau liệu trình đầu tiên (ngày thứ 14).

GA được bán trên thị trường ở dạng acid tự do, trung hòa một phần. Các sản phẩm của các công ty khác nhau sẽ có pH khác nhau trong khoảng từ 1.0 đến 3.0. Một vài công thức có độ pH thấp hơn trong khoảng 0.6. Độ pH càng thấp thì lượng acid tự do càng nhiều, cho phép acid xâm nhập vào da càng sâu và quá trình hình thành frosting (lớp phủ trắng như tuyết) càng nhanh và rộng. Lớp frosting này cho thấy được vùng da có sự li giải các tế bào thượng bì, có màu sắc từ trắng cho đến trắng xám tùy thuộc vào khả năng xâm nhập vào da của GA (Clark và Scerri 2008). Ở vùng da có lớp sừng dày, có thể lựa chọn công thức có độ pH thấp hơn (0.6-1.0) để làm tăng khả năng xâm nhập của acid mà không ảnh hưởng đến tính an toàn của thủ thuật. Tất cả các loại peel với alpha hydroxyl acid đòi hỏi phải trung hòa khi đã đạt được độ sâu mong muốn. Có thể trung hòa bằng cách sử dụng các dung dịch
kiềm hoặc nước.

Nên sử dụng dung dịch sodium bicarbonate 10% ở dạng gel lỏng để trung hòa vì với đặc tính của một dung dịch kiềm nó sẽ gây sủi bọt tại vị trí được trung hòa khi tiếp xúc với pH acid của dung dịch peel, đều này giúp kiểm soát peel tốt hơn để đạt được độ sâu như chúng ta mong muốn. Nếu peel sau khi làm sạch da hoàn toàn thì nên bôi một lớp mỏng GA. Sau đó nên trung hòa ngay với sodium bicarbonate khi vùng da peel bắt đầu xuất hiện frosting. Nên sử dụng bông tăm để bôi nhằm tránh dung dịch acid xâm nhập quá sâu vào da. Sau đó khi thấy có sự xuất hiện đỏ da rõ và đồng nhất (level 0 -1) thì tiến hành trung hòa toàn bộ vùng da được điều trị. Đỏ da xuất hiện cho thấy acid đã xâm nhập qua lớp sừng và bắt đầu xâm nhập vào lớp hạt (Clark và Scerri 2008; Fischer 2010). Nên bắt đầu liệu trình peel với GA 50% và sau đó tăng lên 70% cho liệu trình tiếp theo. Khả năng dung nạp của bệnh nhân là rất tốt khi peel GA ở nồng độ cao, bệnh nhân đầu tiên sẽ cảm thấy ấm và sau đó hơi châm chích và cuối cùng là rát nhẹ (hình 4a-d).

                                

Hình 4: (a-e) Peel glycolic acid 70% (pH = 0.6) ở dạng gel để điều trị tăng sắc tố sau viêm. (a) trước khi bôi; (b) ngay sau khi bôi gel trong suốt; (c) xuất hiện sủi bọt sau khi gel được trung hòa bằng sodium bicarbonate; (d) ngay sau khi bôi; (e) sau liệu trình thứ 2 (ngày thứ 60)

Mặc dù phụ thuộc vào thời gian, nhưng sẽ rất không khôn ngoan nếu để điều này xảy ra, thay vào đó cần phải đạt được đỏ da càng đồng nhất càng tốt khi peel. Đặt biệt phải hết sức lưu ý khi peel ở vùng cổ do lớp sừng thượng bì vùng này mỏng hơn do đó acid sẽ xâm nhập vào da một cách nhanh chóng. Ở những vùng này, frosting và sự li giải thượng bì thường xảy ra

Đặt biệt phải hết sức lưu ý khi peel ở vùng cổ do lớp sừng thượng bì vùng này mỏng hơn do đó acid sẽ xâm nhập vào da một cách nhanh chóng. Ở những vùng này, frosting và sự li giải thượng bì thường xảy ra nhanh và nhiều hơn, do đó phải giữ sẵn dung dịch trung hòa trên tay để nhanh chóng trung hòa acid. Đặc biệt phải lưu tâm đến những vùng nếp nhăn do những vùng này được bôi lượng acid lớn hơn và thường gây ra những vết hoại tử nhỏ. Kế hoạch điều trị với mục đích này thường phải làm trên 6 liệu trình với khoảng cách giữa các liệu trị là 2 tuần hoặc 4 tuần (Clark và Scerri 2008). GA là một loại peel không độc, do đó không gây ngộ độc hệ thống.

Tuy nhiên, nên sử dụng các sản phẩm của cùng một nhà sản xuất để tránh sự khác biệt về dung môi và độ pH.

Trichloroacetic acid

Trichloroacetic acid (TCA) là một chất ổn định, không đắt và không cần phải trung hòa cũng như không có độc tính hệ thống. Phương pháp peel này có thể dễ dàng được kiểm soát vì độ sâu khi peel được quyết định bởi các thông số lâm sàng liên quan tới mức độ đỏ da, khu vực xuất hiện frost- ing và sự biến đổi sức căng da như đã được đề cập trong một chương trước đó. Lớp frosting hay lớp màu trắng được tạo ra do khả năng tấn công của TCA, dẫn đến làm biến tính protein và hoại tử các tế bào da. TCA là một loại peel linh động có hiệu quả trong trẻ hóa da vùng cơ thể và tăng sắc tố thượng bì. TCA có thể có nhiều dạng điều chế như được mô tả bên dưới:

Trong dung môi nước cất

TCA trong dung môi nước cất được sử dụng ở nồng độ 10-15% khi peel rất nông các vùng da body; 20-25 % để peel nông và trên 30% để peel trung bình, ở nồng độ 45% hoặc 50% acid này có thể xâm nhập đến lớp bì lưới trên. Ở nồng độ cao như thế này kết quả sẽ khó dự đoán hơn và nguy cơ biến chứng cao khi peel ở cả vùng da mặt và vùng da ngoài mặt (Landau 2008).


Xuất phát từ mối lo ngại về sự xâm nhập quá mức cần thiết của peel, người ta đã phát triển phương pháp peel phối hợp trong đó sử dụng hai hoặc nhiều loại hóa chất peel trong cùng một liệu trình. Hiệu quả của mỗi
hóa chất sẽ phối hợp với nhau. Trong phương pháp này thì hóa chất peel đầu tiên được sử dụng thường là một chất ly sừng như dung dịch Jessner hoặc glycolic acid 70%, sau đó tiến hành bôi ngay dung dịch TCA 35% pha trong nước cất. phương pháp phối hợp peel trung bình này đã trở nên rất phổ biến đặc biệt đối với những điều trị ở vùng mặt do phương pháp này dễ thực hiện hơn, kiểm soát tốt hơn mức độ xâm nhập của hóa chất vào da, và đạt được mức độ frosting đồng nhất hơn so với chỉ sử dụng TCA đơn thuần ở nồng độ cao (Monheit 1995; Coleman và Fu- trell 1994). Một vài chuyên gia đã áp dụng phương pháp phối hợp peel này vào trong điều trị ở các vùng da body với kết quả đạt được khá tốt đặc biệt là những tổn thương lão hóa da mức độ trung bình. Tuy nhiên, để tránh tác dụng không mong muốn, những bác sĩ chưa có kinh nghiệm không nên thực hiện loại peel này.


Trong peel nông phối hợp, người ta sử dụng TCA có nồng độ thấp hơn từ 15% đến 25% được pha trong nước cất để peel sau khi bôi dung dịch Jessner từ một đến hai lớp trước đó. Phương pháp này cho kết quả điều trị tốt đối với các tình trạng tổn thương da do ánh sáng mức độ nhẹ, rối loạn sắc tố, và các đốm nâu trong bệnh poi- kiloderma of Civatte (Tung and Rubin 2011). Acid TCA trong peel nông có thể xâm nhập đến lớp thượng bì da và đạt được mức độ 1 của hiện tượng frosting (đỏ da kèm các dải nhỏ màu trắng) ). Đối với các rối loạn sắc tố nằm sâu và đốm nâu kéo dài, sau khi peel nông phối hợp có thể peel bằng acid TCA nồng độ cao hơn từ 35% đến
50% tùy khu vực của cơ thể. Chỉ nên peel tiêu điểm và khu trú để điều trị riêng biệt các tổn thương với nhau.

Cook và Cook (200) đã mô tả phương pháp phối hợp peel trung bình không dùng cho da vùng da mặt, trong đó peel glycolic acid được sử dụng đầu tiên ở dạng gel 70%, sau đó bôi TCA 40% pha trong nước cất. Dung môi gel đối với glycolic acid là cần thiết bởi vì nó hoạt động như là một rào cản để làm tăng khả năng xâm nhập của TCA. Sau khi đạt được mức độ frosting như mong muốn, thì tiến hành trung hòa với dung dịch sodium bicarbonate 10% để kết thúc quá trình peel.

Ở dạng hồ bột

TCA cũng có thể được sử dụng ở dạng hồ bột với nồng độ từ 10-20%. Hồ bột được bôi bằng cách sử dụng que đè lưỡi. Sau khi bôi xong, cần loại bỏ bớt một phần hồ bột tạo một “cửa sổ” để có thể quan sát đánh giá mức độ xâm nhập của acid do dạng hồ bột đục không thể đánh giá được. Mặc dù “cửa sổ” này không thể đại diện cho toàn bộ vùng da được peel nhưng là một cách chính xác để đánh giá điểm cuối lâm sàng và giúp trung hòa acid đúng lúc. Quá trình trung hòa được tiến hành bằng cách sử dụng dung dịch alcohol để loại bỏ lớp hồ bột TCA. Đây là lựa chọn an toàn và hiệu quả để tiến hành điều trị ở vùng bàn tay và cảng tay.

Ở dạng gel

Đây là dạng có nồng độ acid phù hợp nhất khi peel ở vùng body. Peel này sử dụng TCA ở dạng gel trong suốt, độ đàn hồi cao, dễ sử dụng, ít gây tai nạn lúc peel, và cho phép quan sát
các hiện tượng da chuyển sang màu trắng và phù nề của toàn bộ vùng da được peel (đây là những yếu tố cần thiết để đánh giá mức độ xâm nhập của acid). Ở dạng gel này thì TCA sẽ được bôi đồng nhất hơn.

Quy trình chuẩn bị da trước peel giống với hướng dẫn trong bài peel TCA, lưu ý là phải ngưng những chất có hoạt tính ly sừng trước khi tiến hành thủ thuật. Acid TCA ở loại peel này được sử dụng ở nồng độ thấp hơn từ 10% đến 20%, phụ thuộc vào độ dày lớp thượng bì cùng vùng cơ thể được peel và mức độ xâm nhập của hóa chất peel muốn đạt được.

Phương pháp peel này được chỉ định để điều trị lão hóa da mức độ nhẹ và trung bình phân bố chủ yếu ở vùng trước xương ức, cổ, cẳng tay, và mu bàn tay.

Peel được tiến hành bằng cách sử dụng tay mang găng để bôi một lớp gel mỏng duy nhất (độ dày từ 0.1-0.2 mm) lên vùng được điều trị (Zanini 2007). Nhờ khả năng gây bít tắt của dạng gel, acid xâm nhập nhanh hơn và đồng nhất hơn mà không cần phải bôi nhiều lớp như khi peel acid pha với nước cất (Zanini 2007).


Độ sâu peel thu được khi peel TCA ở dạng gel có thể từ level 0 (đỏ da đồng nhất) khi peel rất nông lớp thượng bì (loại bỏ toàn bộ lớp sừng thượng bì) đến level 1 (xuất hiện frost- ing từng dải và lốm đốm trên nền đỏ da) khi peel ở mức độ sâu hơn nhằm phá hủy một phần lớp thượng bì hoặc sâu hơn . Khi peel ở da trên vùng cơ thể, nên xem sự xuất hiện của các dải frosting là thông số đánh giá tối đa mức độ xâm nhập của acid. Khác với peel TCA ở dạng pha với nước cất,

                                    

Hình 5: (a-d) Peel trichloroacetic acid 20% trong điều trị lão hóa da do ánh sáng. (a) trước thủ thuật, (b) trong quá trình làm thủ thuật (frosting level 1), (c) vảy và mài nâu (ngày thứ 6), và (d) sau liệu trình thứ nhất (ngày thứ 40).

chúng ta sẽ phải loại bỏ ngay càng sớm càng tốt acid khi đạt được điểm cuối lâm sàng cần thiết. Quá trình loại bỏ acid có thể được thực hiện bằng cách sử dụng gạc ẩm có thấm cồn hoặc đơn giản hơn là sử dụng nước để tránh acid xâm nhập sâu quá mức vào da (hình 5a-d).
Điều trị theo phương pháp này có thể hoàn tất với 2 đến 3 liệu trình peel, khoảng cách giữa các lần peel là 45-60 ngày. Peel nồng độ thấp nhiều đợt liên tiếp giúp đạt được kết quả điều trị tốt, ổn định và có thể dự đoán được trong khi khi vẫn đảm bảo tính an toàn với nguy cơ bị rối loạn sắc tố và hình thành sẹo thấp hơn. Thời gian phục hồi sau thủ thuật tương tự như khi peel TCA pha trong dung dịch nước cất hoặc ở dạng hồ bột, trong thời gian này da bong vảy mỏng màu nâu. Cần lưu ý là sự xuất hiện giãn mạch gây ra bởi TCA trên vùng có diện tích lớn của cơ thể có thể gây hạ huyết áp, nhịp nhanh và ngất.

Thioglycolic acid

Thioglycolic acid là một đại diện của nhóm thioglycolate, đây là những hợp chất đã được sử dụng từ lâu trong ngành công nghiệp làm đẹp để sản xuất thuốc tẩy lông, duỗi tóc và nhuộm tóc (Costa 2010). Acid này còn được gọi là mercaptoacetic acid, trong thành phân của nó có chứa sulfur và có khả năng tan nhiều trong nước và alcohol, và là loại acid dễ bị oxi hóa. Acid này có mùi rất mạnh và đặc biệt. Ái tính của acid này với sắt thương tự như ái tính của nó với apoferritin: nhóm thiol trong thành phần cấu trúc của nó cho phép chelate hóa sắt trong phân tử hemosiderin (Costa 2010). Phương pháp peel này được sử dụng cho những bệnh nhân có phân loại da từ típ I đến IV để điều trị các rối loạn sắc tố có nguồn gốc do melanin hoặc hemosiderin như tăng sắc tố vùng quanh ổ mắt (Costa 2010) và viêm da ochre (Yokomizo 2013).

Ở dạng gel, acid có nồng độ từ 5% đến 12%. Khi peel body để điều trị viêm da ochre ở chi dưới chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu trình điều trị nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau 2 hoặc 4 tuần, với nồng độ acid từ 10% đến 12%. Sau khi làm sạch vùng da, tiến hành bôi một lớp gel mỏng (0.1-0.2 mm) bằng tay mang găng. Hiệu quả của peel thioglycolic acid trực tiếp phụ thuộc vào thời gian bôi. Nên tiến hành rửa sạch với nước ngay khi xuất hiện đỏ da hoặc frosting ở level 0. Khi peel bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu kèm với xuất hiện đỏ da rời rạc tại thời điểm bôi. Trong khoảng 3 ngày sau peel, có thể sẽ xuất hiện từ đỏ da nhẹ cho đến bong vảy mỏng màu nâu ở một số điểm, tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc với acid. Cần phải đặc biệt lưu ý nguy cơ acid xâm nhập sâu quá mức khi peel ở vùng chi dưới vì vùng này da khó lành hơn vùng khác.

CHĂM SÓC ĐẶC BIỆT SAU THỦ THUẬT

Chúng tôi chia quy trình chăm sóc đặt biệt sau thủ thuật thành 2 giai đoạn: chăm sóc ngay khi kết thúc thủ thuật và chăm sóc những ngày sau thủ thuật.

Chăm sóc ngay kết thúc thủ thuật: peel rất nông vùng body thường không gây đau, nhưng có thể cảm thấy ngứa hoắc hơi nóng rát, những cảm giác này sẽ biến mất trong vài phút. Trong peel nông toàn bộ lớp thượng bì sẽ bị hoại tử, đặc biệt là khi peel bằng TCA, đầu tiên bệnh nhân sẽ cảm thấy nóng, sau đó là cảm giác rát bỏng vừa phải. Có thể đắp gạc lạnh hoặc máy làm mát để giảm cảm giác này cho bệnh nhân.

Chăm sóc những ngày sau thủ thuật: cách làm trong trường hợp này rất giống trong trường hợp peel da ở vùng mặt. Nên giữ sạch vùng da đã được điều trị với xà phòng hoặc lotion rửa đối với da nhạy cảm và nên luôn dưỡng ẩm cho da trong 5-7 ngày với các sản phẩm dưỡng ẩm đặc hoặc lỏng như Vaselin, các loại gel hoặc kem dưỡng ẩm để thay thế cho hàng rào da vốn đã bị tổn thương do peel hóa chất. Quá trình làm ẩm sẽ giúp làm dịu cảm giác đau và bỏng rát sau thủ thuật. Đối với những vùng da tiết nhiều dầu, thì nên sử dụng các sản phẩm ít chứa dầu trong thành phần. Quy trình chăm sóc này sẽ giúp ngăn ngừa bùng phát tổn thương dạng mụn trứng cá sau thủ thuật.

Hai ngày sau điều trị có thể bắt đầu sử dụng chống nắng phổ rộng (chống cả tia UVA và UVB), ưu tiên sử dụng các sản phẩm có chứa những thành phần chống nắng vật lý trong thành phần của nó. Việc sử dụng chống nắng ngay sau khi làm thủ thuật có thể gây cảm giác bỏng rát; do đó sử dụng chống nắng không có thành phần hóa học nên được chỉ định để tránh gây kích ứng da. Nên tránh phơi nắng trong những ngay sau khi làm thủ thuật, dù đã có sử dụng chống nắng phù hợp thì tốt nhất vẫn nên tránh ánh nắng. Nếu peel ở vùng cẳng tay và bàn tay, chúng tôi khuyến cáo nên ngưng những hóa chất có liên quan đến những hoạt động nội tại như xà phòng và chất tẩy rửa có tính chất mài mòn da, cho tới khi quá trình tái tạo thượng bì hoàn tất.

Những sản phẩm điều trị thoa tại chỗ ở nhà nên bắt đầu sử dụng ngay khi quá trình viêm sau thủ thuật biến mất. Cần lưu ý là phải mặc quần áo rộng rãi, thỏa mái để hạn chế ma sát vào vùng được điều trị.

BIẾN CHỨNG

Nhiễm khuẩn và nấm hiếm khi xảy ra đối với thủ thuật peel rất nông hoặc peel nông body bởi vì thủ thuật này chỉ phá hủy lớp thượng bì mà thôi. Nếu peel để lại những tổn thương sâu không mong muốn thì vùng da đó cần phải được rửa bằng dung dịch acetic acid 0.25% từ 2 đến 4 lần mỗi ngày, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Cách này giúp vết thương giảm đóng mài và giảm nguy cơ bị nhiễm trùng. Tuy nhiên nếu bị nhiễm trùng, thì ngay lập tức sử dụng kháng sinh và tiến hành lấy bệnh phẩm nuôi cấy làm kháng sinh đồ. Nếu đều trị kịp thời có thể sẽ làm giảm được những biến chứng có thể xảy ra sau này.

Nếu bệnh nhân có tiền sử tái nhiễm herpes ở vùng da được điều trị hoặc vùng lân cận thì nên tiến hành điều trị dự phòng herpes với acyclo- vir 200mg, 5 lần mỗi ngày, hoặc vala- cyclovir 500mg, 2 lần mỗi ngày. Liệu trình điều trị bắt đầu 2 ngày trước thủ thuật và tiếp tục thêm 5 ngày sau khi peel hoặc có thể duy trì cho đến khi quá trình tái tạo thượng bì diễn ra hoàn tất (Tung và Rubin 2011; Anitha 2010).

Nếu có vùng da chậm lành vết thương với biểu hiện lâm sàng là đỏ da kéo dài hoặc xuất hiện những vết loét nhỏ thì nên sử dụng corticoste- roid bôi vừa đến mạnh, có thể sử dụng thêm kháng sinh bôi nếu cần thiết. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu tối đa nguy cơ xuất hiện các biến chứng tăng và giảm sắc tố hoặc hình thành sẹo trong tương lai.

KẾT LUẬN
Khi mà peel trung bình ở vùng mặt được xem là một thủ thuật đơn giản thì việc thực hiện thủ thuật này ở vùng da khác trên cơ thể không phải là một là lựa chọn tốt do tỉ lệ biến chứng cao như chậm lành vết thương và thậm chí là sẹo xấu. Do đó khuyến cáo chỉ nên peel nông ở vùng da ngoài vùng mặt và kết quả lâm sàng có thể
thấy được sau một vài liệu trình điều trị.

Bảng 2: Hóa chất peel body và chỉ định chính.

Hóa chất peel body

Chỉ định

Salicylic acid

Mụn trứng cá, dày sừng nang lông, nám má

Dung dịch Jessner

Tăng sắc tố sau viêm, nám má, da bị tổn thương do ánh sáng

Resorcin

Tăng sắc tố sau viêm

Tretinoin

Da bị tổn thương ánh sáng

5-Fluouracil

Dày sừng ánh sáng

Glycolic acid

Lão hóa da ánh sáng, mụn viêm, sẹo mụn, và rối loạn sắc tố

Trichoroacetic acid

Tổn thương ánh sáng nhẹ, rối loạn sắc tố, poikiloder- ma of Civatte

Thioglycolic acid

Tăng sắc tố do hemosiderin, viêm da ochre

Nên peel da body phối hợp với chăm sóc tại nhà để có thể đạt được kết quả điều trị tốt nhất. Để hạn chế biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục của bệnh nhân, có thể phối hợp peel hóa chất với những công nghệ khác như đông điện hoặc cryotherapy (áp lạnh nitơ lỏng) khi điều trị những tổn thương dày.


Trong những kĩ thuật hiện có, thì peel hóa chất body là một phương pháp điều trị hiệu quả, chi phí thấp và cho kết quả lâm sàng rõ rệt. Do đó với các bác sĩ những người mà chỉ áp dụng điều trị hạn chế các công nghệ như laser và IPL thì nên xem peel da như là một sự lựa chọn thay thế (bảng 2).

GHI NHỚ

  • Peel hóa chất cho vùng da ngoài mặt không chỉ được khuyến cáo đối với một số bệnh cụ thể mà còn để hỗ trợ cho các điều trị khác.
  • Một vài hóa chất được chỉ định để peel body như salicylic acid, dung dịch Jessner, retinoic acid, gly- colic acid, TCA, và thioglyolic acid.
  • Thời gian lành vết thương khi peel body dài hơn so với peel da ở vùng mặt.
  • Khi mà peel trung bình ở vùng mặt được xem là một thủ thuật đơn giản thì việc thực hiện thủ thuật này ở vùng da khác trên cơ thể không phải là một là lựa chọn tốt do tỉ lệ biến chứng cao như chậm lành vết thương và thậm chí là sẹo xấu.
  • Khuyến cáo chỉ nên peel nông ở vùng da ngoài vùng mặt và kết quả lâm sàng có thể thấy được sau một vài liệu trình điều trị.
  • Có thể phối hợp peel hóa chất với những công nghệ khác như đông điện hoặc cryotherapy (áp lạnh nitơ lỏng) khi điều trị những tổn thương dày.
  • Peel hóa chất body là một phương pháp điều trị hiệu quả, chi phí thấp và cho kết quả lâm sàng rõ rệt.
  • Nên tránh tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời trong những ngày trước và sau thủ thuật để hạn chế tối đa nguy cơ hoạt hóa các tế bào sắc tố và làm tăng sắc tố sau thủ thuật.

THAM KHẢO

Anitha B. Prevention of compli- cation in chemical peeling.
J Cut Aesthet Surg.
2010;3(3):186–7.
Brody HJ. Superficial peeeling. In: Brody HJ, editor. Chemical peel- ing and resurfacing. 2nd ed. St Louis: Mosby Year Book; 1997. p. 73–108.
Brubacher JR, Hoffmann RS. Salicylism from topical salicylates: re- view of the literature. J Clin Toxicol. 1996;34(4):431–6.
Callender VD, St Surin-Lord S, Davis EC, et al. Post- inflammatory hy- perpigmentation. Etiologic and thera- peutic considerations. Am J Clin Der- matol. 2011; 12(2):87–99.
Clark E, Scerri L. Superficial and médium-depth chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:209–18.
Coleman WP, Futrell JM. The gly- colic acid tri- chloroacetic acid peel. J Dermatol Surg Oncol. 1994;20(1):76– 80.
Cook K, Cook JR. Chemical peel of nonfacial skin using glycolic acid gel augmented with TCA and neutral- ized based on visual staging. Dermatol Surg. 2000;26:11.
Costa IMC, Gomes CM. Peelings médios/Peles clara e negra/Áreas extrafaciais. In: Mateus A, Palermo E, edi- tors. Cosmiatria e laser: prática no consultório médico. 1ath ed. São Paulo: AC Farmacêutica; 2012. p. 167–
74. Costa A, Basile AVD, Medeiros VLS, Moisés TA, Ota FS, Palandi JAC. Peel- ing de gel de ácido tioglicólico 10%: opção segura e eficiente na pigmen- tação infraorbicular constitucion- al. Surg Cosmet Dermatol. 2010; 2(1):29–33.
Dainichi T, Ueda S, Imayama S, Furue M. Excellent clin- ical results with a new preparation for chemical peeling in acne: 30% salicylic acid in polyethylene glycol vehi- cle. Derma- tol Surg. 2008;34:891–9.
Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera MS, et al. Chemical peels in aesthetic dermatology: an update 2009. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2010;24:281–92.
Hexsel D, Mazzuco R, Dal’forno T, Zechmeister.
D. Microdermabrasion fol- lowed by a 5% retinoid acid chemical peel vs. a 5% retinoid acid chemical peel for the treatment of photoaging – a pilot study. J Cosmet Dermatol. 2005;4(2):111–6.
Hung VC, Lee JY, Zitelli JA, Heb- da PA. Topical tretinoin and epithe- lial wound healing. Arch Dermatol. 1989;1255:65–9.

Katz BE. The fluor-hydroxy pulse peel: a pilot evaluation of a new superficial chemical peel. Cosmet Der- matol. 1995;8:24–30.
Kede MPV. Dermatologia estéti- ca. São Paulo: Ed Atheneu; 2009.
Landau M. Chemical peels. Clin Dermatol. 2008;26:200– 8.
Marrero GM, Katz BE. The new fluor-hydroxy pulse peel. A combina- tion of 5-fluoruracil and glycolic acid. Dermatol Surg. 1998;24:973–8.
Monheit GD. The Jessner’s – tri- chloroacetic acid peel. An enhanced medium – depth chemical peel. Der- matol Clin. 1995;13:277–83.
Peterson JD, Goldman MP. Reju- venation of the aging chest. A review and our experience. Dermatol Surg. 2011;37:555–71.
Takenaka Y, Hayashi N, Takeda M, et al. Glycolic acid chemical peeling improves inflammatory acne erup- tions through its inhibitory and bac- tericidal effects on Propionibacterium acnes. J Dermatol. 2012;39:350–4. Tung CR, Rubin MG. Procedures in cosmetic dermatology series: body peeling. In: Chemical peels, vol. 12. 2nded. Philadelphia: Elsevier; 2011.
p. 117–22.
Yokomizo VMF, Benemond TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel- ings químicos: revisão e aplicação prática. Surg Cosmet Dermatol. 2013;5(1):58–68.
Zanini M. Trichloroacetic acid – a new method for an old acid. Med Cut Iber Lat Am. 2007;35(1):14–7.



Pin It

0 nhận xét:

Đăng nhận xét